Quẻ Sơn Phong Cổ: Sửa Chữa Điều Đã Hư Hỏng, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Sơn Phong Cổ số 18: Cấn trên, Tốn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Sơn Phong Cổ (蠱) là quẻ số 18 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Cấn (núi), hạ quái là Tốn (gió). Cổ nói về tình thế có việc hư hỏng cần được chỉnh đốn. Những lời về trước và sau ngày Giáp đặt việc sửa trị trong một quá trình xem xét căn nguyên và lo liệu sự tiếp nối.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Sơn Phong Cổ Là Gì?

Số thứ tự 18/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Sơn Phong Cổ — 蠱
Thượng quái Cấn — Núi
Hạ quái Tốn — Gió
Hào dương 3
Hào âm 3

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Tốn, ba hào sau tạo thượng quái Cấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Sơn Phong Cổ

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

蠱:元亨。利涉大川。先甲三日,後甲三日。

Nguyên Văn Thoán Truyện

蠱,剛上而柔下,巽而止,蠱。蠱,元亨,而天下治也。利涉大川,往有事也。先甲三日,後甲三日,終則有始,天行也。

Nguyên Văn Đại Tượng

山下有風,蠱;君子以振民育德。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Cấn trên; Tốn dưới Quẻ này là quẻ Sơn Phong Cổ. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn vi Sơn, Tốn vi Phong, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Phong Cổ. TỰ QUÁI Tự quái: Dĩ hỉ tùy nhân giả, tất hữu sự, cố thụ chi dĩ Cổ, Cổ giả sự dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tùy tiếp lấy quẻ Cổ là vì cớ sao? Tiếp liền nghĩa hai quẻ trước: Dự là vui mừng, Tùy là theo, vui mừng theo người tất có công việc làm. Vậy nên sau quẻ Dự, quẻ Tùy, tiếp lấy quẻ Cổ.

Cổ có hai nghĩa: Một nghĩa là hoại loạn, một nghĩa là có công việc. Vì đã hoại loạn mà lo sửa sang, đã sửa sang tất nhiên có công việc, nên nói tắt rằng: Cổ giả sự dã. ( Cổ: việc). Khi vật bỏ lâu ngày chẳng dùng thời sâu mọt sinh, gọi bằng trùng cổ; người say đắm tửu sắc mà tật bệnh sinh, gọi bằng bệnh cổ. Thiên hạ trị an lâu ngày mà tệ hại sinh, gọi bằng cổ hoại. Theo về tượng quẻ, gió ở dưới núi, gió đụng lấy núi mà quay vấn lại; gái ở dưới trai, gái vì say trai mà mê hoặc, thảy là tượng cổ loạn.

Đã cổ loạn thời không thể ngồi yên, tất phải có việc nên đặt tên quẻ bằng Cổ. SOÁN TỪ Cổ, nguyên hanh, lợi thiệp đại xuyên, tiên Giáp tam nhật, hậu Giáp tam nhật. Theo mặt chữ Cổ, chữ mãnh ở dưới, ba chữ trùng ở trên. Mãnh nghĩa là đồ giống. Một đồ giống gì mà chứa trữ đến ba loại sâu là hoại loạn đến cực điểm, loạn cực tất phải trị là lẽ tự nhiên. Vì vậy, Quái từ chẳng thủ nghĩa bằng chữ Cổ mà thủ nghĩa bằng tài trì Cổ. Việc đã hoại loạn rồi mà chỉnh đốn, sửa sang lại cho được trị, ấy là tài trì Cổ; có tài trì Cổ thời làm nên thế đạo được thiên hanh thông.

Tuy nhiên, sửa sang lúc hoại loạn, phá biết bao chông gai, dẹp biết bao sóng gió, có lẽ nào khoan thai bằng phẳng mà làm được, nên tất phải xông nguy hiểm, trải gian nan, mới trì xong Cổ, nên nói rằng: Lị thiệp đại xuyên. Tuy nhiên, công việc trì Cổ há phải gan mạo hiểm, hăng hái trắng trợn mà xong đâu, tất phải có kế hoạch, có quy mô, tính toán cho thiệt sâu xa, sắp đặt cho có thứ tự. Bây giờ lấy số thập Can mà giả định làm ra kế hoạch. Tỉ như: Ngày bắt tay làm việc, chính là ngày Giáp thời phải suy nguyên đến trước Giáp ba ngày.

Ba ngày trước Giáp là ngày Tân, Tân nghĩa là đổi cũ sang mới. Thử tính nghĩ việc đổi cũ sang mới thời nên thế nào? Lại phải tính toan đến sau Giáp ba ngày. Ba ngày sau Giáp là ngày Đinh, Đinh nghĩa là đinh ninh. Đinh ninh tính nghĩ cho đến đoạn sau thời nên thế nào? Nói tóm lại, tiên Giáp là truy cứu cớ sở dĩ nhiên mà sắp đặt một cách mới cho đúng; hậu Giáp là ngày tính toan cho đến tương lai mà sắp đặt một cách phòng bị. Thánh hiền, hào kiệt sở dĩ phá hoại được cũ mà kiến thiết được mới chỉ vi tâm tư cơ, kế hoạch tường.

Xét hết bệnh chứng từ lúc trước mà lập phương cho hay là tiên Giáp. Nghĩ cách bồi bổ ở lúc sau mà chứa thuốc cho sẵn là hậu Giáp. Công việc trì Cổ mà được như thế thời nguyên hanh có khó gì. PHỤ CHÚ: Cổ là một thời đại rất xấu mà cớ sao Quái từ lại được hai chữ nguyên hanh? Tùng lai, thiên hạ không lo vì thời đại loạn mà chỉ lo vì không người bát loạn, nhân sinh không lo vì cảnh ngộ hiểm mà chỉ lo vì không tài tế hiểm. Nếu những người trì Cổ đó gan lớn mà kiêm cả tiểu tâm, tài cao mà kiêm cả viễn lự thời thì loạn chính là đường mở ra trị, cảnh hiểm chính là lối đưa đến bình.

Quái từ đã nói rằng lị thiệp đại xuyên, lại răn cho tiên Giáp, hậu Giáp, dạy người ta cách trì cổ, thiệt chẳng sót một tí gì. Nếu chỉ có tài thiệp đại xuyên mà không kế hoạch tiên Giáp, hậu Giáp, hoặc có kê hoạch tiên Giáp, hậu Giáp mà không gan thiệp đại xuyên thời thảy chẳng phải là tài trì cổ, cổ làm gì mà nguyên hanh được. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Cổ cương thượng nhi nhu hạ, tốn nhi chỉ, Cổ. Cổ, nguyên hanh, nhi thiên hạ tri dã. Lị thiệp đại xuyên, vãng hữu sự dã. Tiên Giáp tam nhật, hậu Giáp tam nhật, chung tắc hữu thỉ, thiên hành dã.

Soán viết: Cổ cương thượng nhi nhu hạ, tốn nhi chỉ, Cổ. Quẻ Cổ này, nguyên hào dương quẻ Càn, lên làm Thượng Cửu: nguyên hào âm quẻ Khôn xuống làm Sơ Lục. Theo về Quái biến thời như thế thành ra người ở trên chỉ một mực cương mà người dưới chỉ một mực nhu, cương thời hết sức đè nén, nhu thời hết sức thừa thuận, còn thành được sự nghiệp gì? Vả lại, theo như đức quẻ, Tốn hạ là thừa thuận, Cấn thượng là đình chỉ. Người ở dưới chỉ thừa thuận, người ở trên chỉ ngồi im còn làm nên việc gì?

Cứ như thế mãi, tất nhiên hoại loạn. Vì thế nên đặt tên quẻ bằng Cổ. Cổ, nguyên hanh, nhi thiên hạ trị dã. Lị thiệp đại xuyên, vãng hữu sự dã. Tiên Giáp tam nhật, hậu Giáp tam nhật, chung tắc hữu thì, thiên hành dã. Từ đây sắp xuống, thích nghĩa lời quẻ, Cổ tuy là hoại loạn, nhưng có hoại mới đẻ ra thành, có loạn mới sinh ra trị. Nếu có tài trì Cổ thời nguyên hanh mà thiên hạ trị cũng chẳng khó gì vậy. Lí tưởng vẫn như thế, nhưng có sự thực mới làm nên được. Đương lúc bây giờ tất phải có người chí khí, tài năng, can đảm, mưu lược, dầu nguy hiểm gian nan mà cứ vững vàng trực tiến nên nói rằng: Lị thiệp đại xuyên.

Nhưng lại phải có trí khôn cho sâu xa, xem xét cho kĩ càng, chứng cứ ở đạo trời mà suy nghĩ đến việc người. Hễ đã có chung, tất phải có thỉ, hoại loạn là việc đã chung, nhưng phải suy cứu cho đến cớ sở dĩ nhiên mà lo một cách chỉnh đốn canh tân, hiện tại là lúc thỉ, tất phải tính trước lẽ tất nhiên ở tương lai mà lo sắm sẵn cách bổ cứu. Đó là bắt chước vận trời mà tính suốt cả chung cả thỉ, nên nói rằng: Tiên Giáp tam nhật, hậu Giáp tam nhật. PHỤ CHÚ: Bốn chữ chung tắc hữu thỉ hàm súc ý nghĩa rất nhiều.

Hiện tại Cổ là chung mà xét đến lúc đầu sở dĩ Cổ là thỉ. Ấy là thăm bệnh nguyên mà tìm thuốc trị bệnh, đúng với câu: Tiên Giáp tam nhật. Hiện tại canh tân là thỉ mà phải nghĩ đến lúc cuối cùng ra thế nào là chung, ấy là bệnh hậu mà tìm thuốc bổ nguyên, đúng với câu: Hậu Giáp tam nhật. Vô luận việc nhỏ, việc lớn, việc quốc gia, việc xã hội, hễ đã làm người tính việc đời, tất phải biết như thế. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Sơn hạ hữu phong, Cổ. Quân tử dĩ chấn dân dục đức.

Ở dưới Cấn sơn mà có Tốn phong, thế là gió đụng lấy núi mà gió phải quay vần. Vật ở trong núi bị tán loạn, ấy là tượng quẻ Cổ. Quân tử xem tượng ấy biết rằng: Thời đại này cần phải có việc mà kể việc đáng làm thời chẳng việc gì lớn hơn việc giáo dục, cổ vũ khí dân, nuôi nấng đức dân, ấy là công việc rất lớn, in như lời sách Đại Học: Minh minh đức ư thiên hạ. Chấn dân: cổ vũ khí dân, khiến cho hăng hái, thức tỉnh trí dân khiến cho linh tỉnh, chính là việc trí dục, thể dục ở đời bây giờ.

PHỤ CHÚ: Phép giáo dục ở các nước văn minh đời nay, đại cương có ba điều. Một là, đức dục, hai là, trí dục, ba là, thể dục. Ở đây nói chấn dân là công việc trí dục, thể dục. Dục đức là công việc đức dục. Nhưng ở trong ba điểu ấy thời đức dục là căn bản. Nếu đức dục chẳng hoàn toàn thời dầu có trí dục, thể dục mà chỉ phấn sức ở nơi văn minh vỏ, thế cũng chẳng ra gì. Vì vậy mà Tượng Truyện quẻ Cổ, quy kết ở hai chữ dục đức

Sáu Hào Của Quẻ Sơn Phong Cổ

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初六:幹父之蠱,有子考,无咎,厲終吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Cán phụ chi Cổ, hữu tử, khảo vô cựu, lệ, chung cát. Sơ Lục tuy ở dưới hết quẻ, nhưng ở về Nội Tốn thời hào Sơ lại là chủ quẻ, theo về gia đình thời tượng là con đầu nghĩa là gia chủ. Ở về quẻ Cổ lại tượng là con thừa nghiệp cha mà phần nhiều việc vì cha mà hoại loạn tất phải nhờ con chỉnh đốn kinh dinh, chuyển loạn vi trị, ấy là cán phụ chi Cổ. ( Cán là ví dụ với cây, cây có cán thời ngành lá mới rậm rạp, con cán được việc cho cha, cũng như thể).

Nguyên lai sở dĩ Cổ là tội tại cha, bây giờ may nhờ có con bổ cứu mọi điều tệ, kiến thiết mọi việc mới, thời cha cũng nhờ có con mà khỏi được mọi tiếng xấu. Tuy nhiên, gặp về thì sau Cổ mà gánh vác lấy việc nặng nề há phải dung dị đâu. Huống gì Sơ Lục thể chất vẫn âm nhu mà ở trên lại không người ủng viện. Theo về hoàn cảnh cũng là đáng nguy nên tất phải dịch lệ răn đe, mới được chung cát ( Lệ là có ý nguy mà cũng có ý e sợ). Xử vào địa vị ấy, gánh công việc ấy, biết lấy làm nguy mà để lòng răn sợ thời kết quả được tốt lành.

Tượng viết: Cán phụ chi Cổ, ý thừa khảo dã. Hào từ nói rằng: Cán phụ chi Cổ nghĩa là những việc hoại loạn, tuy lỗi tại cha, nhưng tâm lí của cha, cũng trông mong được người con tốt bổ cứu những điều lỗi cho mình, Sơ Lục biết lấy nghĩa vụ làm con mà cán được những việc cổ của cha, tuy việc cán cổ vẫn tay con làm, nhưng cũng vâng đỡ ý chí của cha đó vậy. PHỤ CHÚ: Thông lệ ở trong Dịch, mỗi một quẻ là một việc, mỗi một hào là một thì giờ ở trong việc ấy, quẻ Cổ này chuyên nói về việc nhà nên thủ tượng bằng con với cha mẹ.

Tuy nhiên, Dịch lí là cốt biến thông, hoặc quốc gia, hoặc xã hội, hễ dụng thời đại nào, người trước đã làm ra tệ hoại mà người sau có lẽ sửa sang, thay đổi những việc Cổ, để gây dựng được nền canh tân, cũng có thể gọi bằng cán phụ chi Cổ. Phụ là chỉ vào những bậc tiên nhân, chẳng phải chỉ câu nệ bằng cha, con không mà thôi

Hào 2 — Cửu Nhị

Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九二:幹母之蠱,不可貞。

Phan Bội Châu chú giải:

Cán mẫu chi Cổ, bất khả trinh. Cửu Nhị dương cương đắc trung, thượng ứng với Lục Ngũ, Ngũ là âm nhu nên thủ tượng bằng mẹ; hào Nhị vì có tài cương trung mà dùm giúp việc cho một người nhu thuận, sủa sang được những việc tệ hại, xoay lại làm thành, tượng là cán mẫu chi Cổ. Nhưng tòng lai, Ngũ âm chất nhu nhược mà Nhị thời lại dương cương, lấy tính dương cương mà chu hoàn với tính âm nhu, tất nhiên, hai bên thường hay để ngộ. Vậy nên, thánh nhân phải răn cho rằng: Cán mẫu chi Cổ, há phải câu nệ như cách cán phụ chi Cổ đâu, con đối với cha thời lấy cách cương trực mà làm tránh tử là hay, còn như đối với mẹ, thường tình phụ nhân phần nhiều ưa cách hòa duyệt nhu thuận nên muốn cán mẫu chi Cổ, tất phải êm hòa mát ngọt mà đối với mẹ, có lúc phải biến thông ủy khúc mà cũng phải làm, chứ không nên cố chấp một cách kiên trinh.

Đó là một đạo biến hóa ở trong Dịch học. Tượng viết: Cán mẫu chi Cổ, đắc trung đạo dã. Ở trong Dịch, thường quý trọng chữ trinh, duy Hào từ này lại nói bất khả trinh, chẳng phải là mâu thuẫn hay sao? Vẫn có thể mâu thuẫn chẳng phải là Dịch lí, mà biến hóa chính là Dịch lí. Vì có biến hóa nên cũng có lúc như hình mâu thuẫn. Nguyên lai, trinh nghĩa là chính, cũng có nghĩa là bền mà bền tất phải dụng cương. Còn đối với mẹ mà hoàn toàn dụng cách cương e có khi đến nỗi mẫu, tử bất tương đắc, thời công việc cán Cổ phải hỏng ngay, nên Tượng Truyện nói rằng: Muốn chỉnh đốn những việc tệ hoại của mẹ mình tất phải cốt được đạo trung, nghĩa là không nên quá cương, vừa hợp với đạo trung mới đúng.

Đó là nghĩa chữ bất khả trinh của Hào từ. Suy rộng nghĩa ấy thời chúng ta xử việc đời, cũng phải tùy thì, tùy địa, tùy nhân mà liệu cách biến thông, ấy là trung đạo

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:幹父之蠱,小有悔,无大咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Cán phụ chi Cổ, tiểu hữu hối, vô đại cựu. Hào Cửu vị Tam là quá cương bất trung, người ấy vẫn có tài, nhưng chẳng khỏi tính cương táo, nhưng vì Tam ở thể Tốn, Tốn là có tính thuận, tuy cương quá mà chẳng phải là không tính thuận nên làm một người chủ cán sửa sang những việc tệ hoại cho cha mình. Lúc đầu, vì nóng nảy quá kích, tất phải một phần mắc lấy những việc đáng ăn năn, nhưng cuối cùng không tội lỗi gì lớn. Bởi vì Cửu Tam đắc chính lại có tài dương cương, tất nhiên cán nổi được việc Cổ cho cha mà chẳng đến có tội lỗi lớn.

Tượng viết: Cán phụ chi Cổ, chung vô cựu dã. Nghĩa Tượng Truyện cũng nói như trên Hào từ. PHỤ CHÚ: Cửu Tam là hạng người có tính chất quá cương, chắc là một hạng người hay trung ngôn, trực gián. Sách xưa có câu: Phụ hữu tránh tử, gia chi phúc, (Tránh: can cãi). Thấy cha làm điều trái đạo lí mà trực gián cố tranh, khiến cho cha khỏi sụp vào vòng bất nghĩa, chinh là một cách cán phụ chi cổ nên kết quả được vô cựu

Hào 4 — Lục Tứ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六四:裕父之蠱,往見吝。

Phan Bội Châu chú giải:

Dụ phụ chi Cổ, vãng kiến lẫn. Hào âm ở vị âm, tính chất nhu thuận mà lại nhút nhát, không thể hữu vi được. Lấy một cách dui dai, dùng dằng mà gánh việc trì Cổ chỉ là kéo dài mối họa loạn cho cha mà thôi. (Dụ: kéo dài, cũng có nghĩa là thủng thẳng). Thủng thẳng rù rò ngày càng thêm Cổ, như thế mà kéo dài hoài, chỉ thấy đáng xấu hổ mà thôi. Tượng viết: Dụ phụ chi Cổ, vãng vị đắc dã. Tài quá nhu như Lục Tứ mà xử vào thời đại trì Cổ, chỉ là dụ phụ chi Cổ mà thôi.

Dầu có tấn hành cũng chỉ thất bại vậy ( Vãng: tấn hành; vị đắc, tức là thất bại). PHỤ CHÚ: Hào Tam vì quá cương mà hữu hối, hào Tứ vì quá nhu mà kiến lẫn, nhưng ở về thì Cổ, tất có tài dương cương mới hay hữu vi, dù có tiểu hữu hối, như Cửu Tam chẳng thể vãng, như Lục Tứ kiến lẫn. Bởi vì quá cương còn có vai gánh vác, quá nhu thời chỉ là một hạng người nằm im mà thôi

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:幹父之蠱,用譽。

Phan Bội Châu chú giải:

Cán phụ chi Cổ, dụng dự. Lục Ngũ bản chất âm nhu mà ở ngôi chí tôn là một tay chủ cán trọng yếu nhất ở trong thì Cổ, nhưng vì bản thân là âm nhu nên chẳng làm nổi việc khai cơ sáng nghiệp, may nhờ vì có đức trung mà hạ ứng với người có tài dương cương là Cửu Nhị. Có đức trung mà lại tín nhiệm tôi hiền làm một người kế nghiệp thủ thành, thật là xứng đáng, chính là cán phụ chi Cổ mà lừng lẫy tiếng khen ở trong đời. Dự nghĩa là tiếng khen; dụng dự nghĩa là dụng người tốt mà được tiếng khen.

Hào này tượng như Trần Thái Tông, Lê Nhân Tông ở nước ta, thảy dùng được tôi hiền mà có danh dự. Tượng viết: Cán phụ dụng dự, thừa dĩ đức dã. Lục Ngũ có đức nhu trung, nhờ có Cửu Nhị ở dưới, lấy đức cương trung mà thừa thuận với Ngũ, mới hay cán phụ chi cổ, dụng dự. Đó là kết quả của đức trung vậy

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:不事王侯,高尚其事。

Phan Bội Châu chú giải:

Bất sự vương hầu, cao thượng kì sự. Theo lệ Kinh Dịch, hào vị đến Ngũ là chí tôn, mà hào Thượng là vô vị, chỉ là một người ở ngoài việc. Thượng Cửu ở về cuối cùng thì Cổ, bao nhiêu công việc cán Cổ, chẳng trách nhiệm gì đến mình. Tượng là một vị hiển nhân quân tử, cao khiết tự trì, siêu nhân ở ngoài thế tục, mặc dầu vương hầu cao quý mình chẳng thèm xu phụ tới nơi, chỉ là cao thượng lấy việc của mình mà thôi. Tượng viết: Bất sự vương hầu, chí khả tắc dã. Thượng Cửu bản thân, đã xử ở ngoài việc đời, thôi thời danh tiết tự trị, chẳng thèm thần sự vương hầu, chí cao thượng được như thế, đáng làm pháp tắc cho người đời vậy.

PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc đến quẻ Cổ, lại biết thêm một nghĩa biến hóa ở trong Kinh Dịch. Hào Thượng theo thông lệ vẫn là vô vị, nhưng ở quẻ Càn thời thánh nhân lấy nghĩa bằng cương cực mà bảo rằng: Hữu hối. Đến quẻ Cổ thời chẳng thủ nghĩa bằng cơ cực mà lại lấy vô vị làm hay. Vô vị nghĩa là không quyền vị, chính như câu nói thầy Mạnh: Ngã vô quan thủ, ngã vô ngôn trách giả, tắc ngô tiến thối, khỉ bất xước xước, nhiên hữu dư dụ tai. Nghĩa là: Ta không chức nhậm làm quan, ta không trách nhậm phải nói, thời đường tấn thối của ta há chẳng tự do tự tại nữa rư?

Thiệt đúng với bổn phận những người vô vị, nên nói rằng: Bất sự vương hầu, cao thượng kì sự. Quân tử ở đời, vẫn ôm một tấm lòng lo gánh vác việc đời, nhưng cũng phải xem ở nơi phận vị mình, nếu phận vị mình đã xử vào cục ngoại mà hãy còn chui lòn, len lỏi vì phú quý mà thất thân thời còn gì giá trị nữa. Ngày xưa, như ông Trần Hi Di đời Tống, ẩn cư núi Hoa Sơn; cụ Nguyễn Thiếp ở đời Tây Sơn ẩn cư Thành Lục Niên, thảy là đúng như Hào từ Thượng Cửu quẻ Cổ.

Hào từ nói rằng: Cao thượng kì sự. Chữ sự rất có ý nghĩa: hữu sự vẫn là sự, mà vô sự cũng là sự. Gặp thì, đúng thế thời đem thân ra cống hiến với đời, trái buổi mất ngôi thời treo gương danh tiết với thiên hạ, quân tử có bao giờ vô sự đâu, nên nói rằng: Cao thượng kì sự

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Sơn Phong Cổ là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Sơn Phong Cổ Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 18 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Sơn Phong Cổ Là Gì?

Thượng quái là Cấn, tượng núi; hạ quái là Tốn, tượng gió. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 蠱: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Sơn Phong Cổ. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 17: Trạch Lôi Tùy · Quẻ 19: Địa Trạch Lâm

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline