Quẻ Địa Trạch Lâm (臨) là quẻ số 19 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Khôn (đất), hạ quái là Đoài (đầm). Lâm nói về đến gần và sự tiến lên của thế mạnh. Lời quẻ vừa nêu hanh thông, vừa có lời nhắc về sự đổi chiều, nên không thể chỉ giữ lại phần thuận lợi mà bỏ qua cảnh giới.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Địa Trạch Lâm Là Gì?
| Số thứ tự | 19/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Địa Trạch Lâm — 臨 |
| Thượng quái | Khôn — Đất |
| Hạ quái | Đoài — Đầm |
| Hào dương | 2 |
| Hào âm | 4 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Đoài, ba hào sau tạo thượng quái Khôn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Địa Trạch Lâm
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
臨:元亨。利貞。至于八月有凶。
Nguyên Văn Thoán Truyện
臨,剛浸而長。說而順,剛中而應,大亨以正,天之道也。至于八月有凶,消不久也。
Nguyên Văn Đại Tượng
澤上有地,臨;君子以教思无窮,容保民无疆。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Khôn trên; Đoái dưới Quẻ này là quẻ Địa Trạch Lâm Đoài hạ cũng là Nội Đoài, Khôn thượng cũng là Ngoại Khốn. Khõn vi Địa, Đoài vi Trạch, nên tên quẻ đọc bằng Địa Trạch Lâm. TỰ QUÁI Tự quái: Cổ giả sự dã, hữu sự nhi hậu khả đại, cố thụ chi dĩ Lâm. Lâm giả đại dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ cổ tiếp lấy quẻ Lâm là vì cớ sao? Cổ nghĩa là việc, hễ có việc mà sau mới làm đến lớn được. Đã có việc thời lớn. Vậy nên sau quẻ Cổ tiếp lấy quẻ Lâm, Lâm nghĩa là lớn.
Theo về thể quẻ, nguyên đầu là quẻ Khôn vì đem lại hai nét dương thay vào hào Sơ, hào Nhị, thế là dương cương tiệm trưởng mà tới ngày thịnh lớn, nên đặt tên quẻ bằng Lâm. Lại ở trên Đoài trạch có Khôn địa, tượng là bờ đất bức cận với nước, nên cũng gọi bằng Lâm. Lâm, lại nghĩa là bức gần, chúng ta thường hay nói “lâm dân”, “lâm hạ” là thuộc về nghĩa ấy. SOÁN TỪ Lâm, nguyên hanh, lị trinh, chí vu bát nguyệt, hữu hung. Quẻ Lâm này là quẻ tháng Mười Hai, hai hào dương đã trưởng lần, bức áp bốn âm, từ đó sắp đi, dương càng trưởng, âm càng tiêu là thế đạo đã gần lúc thông thái mà lại theo về tài quẻ thời Cửu Nhị cương trung ứng với Lục Ngũ nhu trung, quân thần đông đúc, xoay đổi cuộc đời, nhân sự cũng có chiều vui vẻ nên thánh nhân mừng cho xã hội đến thì Lâm này, chắc được thông thái lớn lắm.
Tuy nhiên, lẽ trong thiên hạ, có đâu trị mãi mà chẳng loạn, có đâu thịnh mãi mà chẳng suy. Đạo quân tử tuy đương trưởng mà đã chắc đâu đạo tiểu nhân thiệt tiêu hết rư? Hễ người ta xử vào thì Lâm, chớ nên kiêu xa, phóng tứ, phải lo vun đắp chính đạo cho thiệt vững bền. Nếu chẳng thế thời e họa loạn chẳng bao lâu tới ngay, ước chừng đến tám tháng nữa, tất có điều hung họa. ( Bát nguyệt, có nghĩa là tám tháng, lại có nghĩa học là tháng Tám). Nguyên nét dương ở quẻ Lâm, bắt đầu sinh từ quẻ Phục là quẻ tháng Mười Một, bắt đầu kể từ quẻ Phục là một tháng mới có một nét dương, đến hai nét dương mà thành quẻ Lâm.
Lâm là quẻ tháng Mười Hai là được hai tháng; ba dương sinh ra quẻ Thái, quẻ tháng Giêng là được ba tháng; trung gian trải qua bốn dương là quẻ Đại Tráng, quẻ tháng Hai là được bốn tháng, năm dương là quẻ Quải, quẻ tháng Ba là được năm tháng, sáu dương là quẻ Càn, quẻ tháng Tư là được sáu tháng. Bỗng chốc nhất âm sinh mà làm quẻ Cấu [16], quẻ tháng Năm, dương trưởng chỉ mới sáu tháng mà đã có cơ tiêu. Lại tấn lên quẻ Độn, quẻ tháng Sáu thời Nhị âm đã trưởng lần mà tứ dương đã có thể nguy.
Kể lại từ tháng nhất dương sinh đến nay, vừa được tám tháng. Thế là dương đã rõ ràng thế tiêu, âm đã rõ ràng thế trưởng, chẳng phải hữu hung hay sao? Xem lí tự nhiên ở trong Kinh Dịch thời cơ họa phúc thịnh suy, chẳng ghê tởm lắm hay sao? thánh nhân đương lúc dương trưởng mà lo sẵn đến lúc dương tiêu, chính giữa lúc âm tiêu mà ngừa trước đến lúc âm trưởng nên có câu: Chí vu bát nguyệt hữu hung. Lại có một nghĩa: Bát nguyệt là tháng Tám, kể ra cũng thông. Bởi vì nhất âm sinh từ quẻ Cấu [17] là quẻ tháng Năm.
Đến Nhị âm sanh là quẻ Độn là quẻ tháng Sáu. Tam âm địch với tam dương là quẻ Bĩ là quẻ tháng Bảy, âm trưởng đến bốn hào mà dương chỉ còn hai hào, âm có thể đánh đổ dương, chính là quẻ Quán là quẻ tháng Tám. Dương tiêu đến đó, âm trưởng đến đó, thế đạo còn gì tốt nữa đâu, nên nói rằng: Đến tháng Tám thời hữu hung nghĩa ấy, cũng thông, nhân vì tháng Tám là tháng quẻ Quán vậy. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Lâm, cương tẩm nhi trưởng, duyệt nhi thuận, cương trung nhi ứng. Đại hanh dĩ chính, thiên chi đạo dã; chí vu bát nguyệt hữu hung, tiêu bất cửu dã.
Soán viết: Lâm, cương tẩm nhi trưởng, duyệt nhi thuận, cương trung nhi ứng. Thông lệ Dịch, âm là tiểu, dương là đại, âm tính nhu, dương tính cương. Quẻ này, hai nét dương lần lần mà tấn lên hoài nên nói rằng: Cương tẩm nhi trưởng. Nội Đoài là có đức tính duyệt, Ngoại Khôn là đức tính thuận. Nhị dương mừng được tấn là duyệt, tứ âm chẳng dám cự là thuận. Cửu Nhị dương cương đắc trung mà ứng với Lục Ngũ, đức quẻ, thể quẻ như thế. Vậy nên nói rằng: nguyên, hanh, lị, trinh ( Tẩm: lần lần). Sách Phù Kinh có câu: Thiên địa chi đạo tẩm, cũng theo nghĩa chữ Tẩm này.
Đạo lí ở trong trời đất, trưởng không bỗng chốc trưởng, tiêu không bỗng chốc tiêu, tất phải từ lúc mảy may mà lần lần tấn đến lúc thực hiện. Đó là nghĩa chữ Tẩm. Đại hanh dĩ chính, thiên chi đạo dã. Theo về đức quẻ, tốt như thế nên được nguyên, hanh, lị, trinh, chính là hợp với đạo trời vậy. Chí vụ bát nguyệt hữu hung, tiêu bất cửu dã. Quẻ Lâm mà lật trái lại là quẻ Quán. Tuy bây giờ dương trưởng, nhưng chẳng bao lâu thời đến quẻ Quán, phút nữa thời là quẻ Bác, quẻ Khôn là dương tiêu hết rồi.
Thánh nhân muốn cho chúng ta phòng bị trước, chớ thấy dương trưởng mà mừng nên nói rằng: Tiêu bất cửu dã. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Trạch thượng hữu địa, Lâm. Quân tử dĩ giáo tứ vô cùng, dung bảo dân vô cương. Quẻ này Khôn trên, Đoài dưới là trên chằm có đất, dưới đất là bờ chằm, bờ chằm áp tận mặt nước thành ra tượng Lâm. Địa lâm với Thủy, tượng như kẻ trên lâm với kẻ dưới. Quân tử xem tượng ấy đem làm việc lâm dân, việc lâm dân tuy nhiều, nhưng nói tóm lại chỉ cốt giáo với dưỡng, lấy cách giáo hóa mà lâm dân thời lo cho khai dân trí, hưng dân đức, ý tứ dạy không bao giờ cùng.
Lấy cách dưỡng dục làm lâm dân thời lo bênh vực những người bần cùng, vun đắp ra nền phú thứ, dung nạp bảo tồn hết thảy loài người không ngần nào là đủ. PHỤ CHÚ: Chẳng những nói chữ giáo mà thôi, lại nói thêm chữ tứ. Tứ là thuộc về tình thần, giáo chẳng những ở hình thức mà cốt ở tinh thần nên nói rằng giáo tứ, nghĩa là dùng ý tứ sâu xa mà bày đặt ra cách giáo dục, tượng như đức nước thấm ngầm sâu xa. Đó là thủ tượng bằng hạ Đoài, chẳng những nói bảo dân thôi mà còn nói dung bảo là có đức lượng “đại công vô tư”, sẽ bao dung cho hết thảy loài người, tượng như lượng đất chở muôn vật.
Đó là thủ tượng bằng Thượng Khôn, nên nói: Dung bảo dân vô cương
Sáu Hào Của Quẻ Địa Trạch Lâm
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初九:咸臨,貞吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Hàm lâm, trinh, cát. Trong quẻ này duy hai dương lâm bức một âm mà Sơ Cửu bắt đầu vào thì Lâm, dương vừa vùn vụt mà lên, âm vẫn có chiều thối nhượng, nhưng vì số âm còn nhiều hơn nên hai dương phải hiệp lực với nhau mới chiến thắng được âm. Sơ Cửu, dương cương đắc chính, lại được bạn mình là Cửu Nhị dương cương đắc trung, đồng tâm hiệp lực lên mà áp bức quần âm, ấy là hàm lâm. Sơ Cửu rập với Cửu Nhị mà lâm tứ âm, vẫn là một việc đáng mừng cho dương loại, nhưng tòng lai: Phân bằng kết đảng thời hay dính vào tư tà nên thánh nhân mừng cho Sơ Cửu, vì Sơ Cửu đắc chính tất chẳng đến nỗi vì tư tà mà mắc tiếng xấu nên nói rằng: Trinh cát.
Hàm: đều, cũng có nghĩa là rập nhau; trinh cát: vừa chính vừa lành. Bốn chữ ở Hào từ này có ý vui mừng cho quân tử mà cũng ngậm ý răn cho quân tử: Hàm lâm mà trinh mới được cát. Tượng viết: Hàm lâm trinh cát, chí hành chính dã. Hào từ nói rằng: Hàm lâm trinh cát là chí ý của hào Sơ chỉ cốt ở làm đạo chính, chẳng bao giờ ỷ mình dương trưởng mà quên đạo chính mình vậy
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:咸臨,吉无不利。
Phan Bội Châu chú giải:
Hàm lâm cát, vô bất lị. Chữ Hàm lâm ở hào này nghĩa cũng giải thích như Sơ Cửu. Cửu Nhị lấy đức dương cương đắc trung, rập sức với Sơ Cửu mà lâm áp quần âm. Theo về đạo lí vẫn chính đáng, theo về cơ hội vẫn thuận lị, gặp thì vận dương trưởng mà tấn hành việc dương thăng, xem như hiện tại vẫn tốt lành mà tương lai lại chẳng việc gì chẳng thuận lị. PHỤ CHÚ: Bắt đầu vào thì vận dương trưởng mà âm có thể tiêu lần, nhưng xem Hào từ của thánh nhân: Sơ, Nhị chỉ chung nhau hai chữ hàm lâm.
Há phải thánh nhân sợ tốn chữ mà không làm được chữ khác rư? Ở trong ngậm ý tứ rất sâu xa. Tòng lai, việc trong thiên hạ, tiểu nhân hại quân tử thường dễ mà chóng thành, quân tử ngự tiểu nhân thường khó mà hay bại. Cùng nhiều lúc quân tử chia làm hai đảng, nhân đó mà gây nên họa tiểu nhân hại mình. Tỉ như đời Đông Hán, Từ Trĩ Trần Phồn với Khoách Thái, Lí Ung, thảy là quân tử, chỉ vì quần hiền không rập nhau nên Thập Thường Thị mới đắc chí mà họa đảng cố gây nên thiệt lớn.
Lại như đời Tống Triết Tôn, Tô Đông Pha với Trình Y Xuyên, thảy là quân tử mà té ra lại chia làm Lạc Đảng, Thục Đảng nên nỗi chúng quân tử phải sụp vào tay Thái Kinh, Thái Xác. Xem như các gương ấy thời biết được nghĩa chữ “hàm lâm” ở hai hào này, chính là thủ đoạn quân tử ngự tiểu nhân. Ý tứ hay nhất là chữ hàm, tâm đồng mà lực bất đồng là chẳng phải hàm, lực đồng mà tâm bất đồng cũng chẳng phải hàm. Sơ với Nhị đồng tâm hiệp lực cùng nhau mới là hàm lâm.
Vì thế mà hai hào thảy được chữ cát. Nói tóm lại, hàm thời cát, bất hàm thời hung là lẽ tất nhiên. Thông lệ Kinh Dịch mỗi một hào có khi chỉ về một người, cũng có khi chỉ về một phe, cũng có khi chỉ về một quốc gia, một xã hội, tức như hai hào này nếu nhận làm hai phe rập nhau cũng có thể được. Học Dịch phải biến thông rộng lớn như thế, nếu câu nệ chấp nhất thời còn gì là học Dịch đâu. Tượng viết: Hàm lâm, cát, vô bất lợi, vị thuận mệnh dã. Hào từ Cửu Nhị tuy nói rằng cát, vô bất lị, thiệt lấy làm vui mừng, nhưng thánh nhân còn lo cho người ỷ vào mệnh trời mà không lo tận nhân sự.
Ý ngài nói rằng: Tất phải hàm lâm mới được cát, vô bất lị là lấy nhân sự để giúp đỡ thiên mệnh, chứ không phải ngồi im mà chờ mệnh trời. Nghĩa chữ vị ở đây cũng như chữ phi, không học vị là chưa mà học vị là chẳng phải. Mệnh là mệnh trời là lí số tiêu trưởng; thuận mệnh là chỉ ngồi nghe số trời. Theo số trời, vẫn đến lúc dương trưởng đáng không phải lo gì tiểu nhân, nhưng thiên số cũng cần phải có nhân sự, có lẽ gì thuận thính mệnh trời mà được rư? Nên Nhị dương phải hàm lâm.
Thế là không phải ngồi nghe mệnh trời vậy. Trên kia đã nói rằng: Tiêu bất cửu là lo sẵn đến ngày dương tiêu. Ở đây lại nói rằng: vị thuận mệnh là bảo chớ ỷ thế bằng dương trưởng. Hai ý đó nên đắp đổi mà xem với nhau
Hào 3 — Lục Tam
Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六三:甘臨,无攸利。既憂之,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Cam lâm, vô du lị, kí ưu chi, vô cựu. Lục Tam âm nhu bất trung chính là một tay tiểu nhân ở thì Lâm. Tam ở trên hết Nội Quái hạ lâm với nhị dương. Tam thấy nhị dương đương trưởng, toan dùng cách ngon ngọt a dua để sập nhị dương. Nhưng mà nhị dương là quân tử, có lẽ đâu vì Tam ngon ngọt mà bị sụp. Lục Tam dầu cam lâm đến thế nào, cũng chỉ bày tỏ nết xấu để thêm người ta ghét mà thôi, có ích lị gì đâu. Tuy nhiên, Lục Tam mới bắt đầu vào cửa tiểu nhân, thánh nhân chưa nỡ cự tuyệt nên lại răn rằng: Cách cam lâm của Tam vẫn không ra gì.
Nếu Tam biết cải quá thiên thiện, lo bỏ điều xấu mà bỏ một cách thiệt thà, Tam hồi tâm như thế thì quân tử cũng không trách móc gì mà Tam cũng khỏi tội lỗi. Tượng viết: Cam lâm, vị bất đáng dã, kí ưu chi, cựu bất trưởng dã. Lục Tam cam lâm là vì địa vị Tam bất trung chính, không đáng với vị ở trên người vậy, nhưng đã biết lo mà cải quá thời tội lỗi cũng đến nỗi lớn vậy. PHỤ CHÚ: Chỉ một chữ cam mà vẽ hết tinh thần của tiểu nhân. Xưa Lí Lâm Phủ làm tướng đời Đường là một đứa tiểu nhân làm hại vô số quân tử.
Người đời có câu nhạo nó rằng: Khẩu mật phúc kiếm là miệng nó như mật ngọt mà trong bụng nó có gươm. Lại như thằng Lô Khỉ hễ nó cười với ai thời người ấy rồi bị nó giết, người ta bảo Lô Khỉ tiếu trung hữu đao là nói trong miệng cười Lô Khỉ cổ cái dao, nên chúng ta phòng bị tiểu nhân phải phòng bị ở chốn ngon ngọt. Tiên triết có câu: Kì ngôn thái cam, kì trung tất khổ. nghĩa là: Nghe lời nói quá chừng ngon ngọt, tất nhiên ở trong ấy có cái rất đắng
Hào 4 — Lục Tứ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六四:至臨,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Chí lâm, vô cựu. Lục Tứ này cũng âm nhu, cũng tiểu nhân ở thì Lâm, nhưng vì hào Lục ở vị Tứ là đắc chính lại hạ ứng với Sơ Cửu là được người bạn hiền, chính với chính giúp nhau, vì hoàn cảnh mà biến hóa được Tứ, nên Tứ biết lấy một cách thành thực thâm thiết mà lâm với Sơ, như thế thời không tội lỗi gì đến Tứ. Tượng viết: Chí lâm, vô cựu, vị đáng dã. Tứ sở dĩ chí lâm vô cựu là vì vị Tứ xử vào vị đắc chính vậy
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:知臨,大君之宜,吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Trí lâm, đại quân chí nghi, cát. Ngũ là vị chí tôn, lại ở vị dương cương, Lục là âm nhu xử vào vị ấy, vẫn là cảnh khó xử, nhưng vì Ngũ có đức trung lại ở thể Khôn có tính thuận, ở vị cương nhờ có một bậc hiển thần cương trung là Cửu Nhị thượng ứng với mình. Ngũ có đức trí tri nhân, thiện dụng, biết tín nhậm Cửu Nhị, bao nhiêu việc thiên hạ thảy kí thác cho Cửu Nhị, tự mình chỉ lấy đức trí của mình lâm thiên hạ. Như thế thời tai mắt của người, tất là tai mắt mình, thông minh của thiên hạ nhóm góp làm thông minh của mình, thiệt đúng tư cách người nguyên thủ trong một nước.
Kết quả chắc được tốt lành. ( Đại quân: nguyên thủ; nghi: đúng tư cách). PHỤ CHÚ: Hào này tốt nhất ở trong quẻ, nhưng sở dĩ được tốt nhất thời vì có đức trí ( Trí là khôn), mà đức trí lớn nhất là trí hay biết người. Sách Trung Dung có câu: Thông minh duệ trí, túc dĩ hữu lâm, nghĩa là: Có đức thông minh khôn sáng mới đủ lâm được người, chính đúng với nghĩa trí lâm ở hào này. Tượng viết: Đại quân chi nghi, hành trung chi vị dã. Lục Ngũ âm nhu đắc trung, Cửu Nhị dương cương cũng đắc trung, hai bên thảy có đức trung, vậy nên, thanh ứng khí cầu, chí đồng đạo hợp, chỉ cốt phát triển đức trung mà thôi.
Hào từ Lục Ngũ sở dĩ nói rằng: Đại quân chi nghi, cũng chỉ nói hành trung đó vậy
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:敦臨,吉无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Đôn lâm, cát, vô cựu. Theo thông lệ ở các quẻ thời hào Thượng thường hay không tốt. Bởi vì vật cực tất biến là lẽ tự nhiên. Duy quẻ Lâm này thủ nghĩa đặc biệt thời lại lấy cực làm tốt, bởi vì Thượng ở cuối cùng quẻ Lâm là Lâm chi chung, lại ở trên hết Ngoại Khôn là thuận chi cực, xử vào thời đại Lâm chính là lúc quân tử đạo trưởng, nhưng cứ lẽ việc trong thiên hạ há phải một phía quân tử mà làm được xong rư? Chỉ mong cho tiểu nhân phục tòng với quân tử là được, Thượng Lục thể Khôn, tính thuận, ở cuối cùng thì Lâm, chân tâm phục tòng với nhị dương, lại ở trên hết bốn âm, chính là anh đầu bầy ở trong tiểu nhân, dắt cả bầy tiểu nhân mà thành tâm phục tòng quân tử, thiệt là trung hậu rất mực mà lâm với đời, ấy là “ đôn lâm ” ( Đôn, cũng như chữ hậu, nghĩa là dày dặn).
Âm nhu lâm dương mà lại hết sức thuận tòng với dương, tượng như đức dày chở được muôn vật nên nói rằng: Đôn lâm, như thế thời cát mà vô cựu. Tượng viết: Đôn lâm chi cát, chí tại nội dã. Thượng Lục sở dĩ được cát bằng đôn lâm là vì tinh thần ý chí của Thượng chỉ thuận tòng với hai dương ở Nội Quái vậy. PHỤ CHÚ: Chữ Lâm có hai nghĩa: Một nghĩa là lâm ấp; một nghĩa là lâm tiếp. Ở trong sáu hào theo địa vị mà khác nhau. Chữ Lâm ở hào Sơ và hào Nhị là nhị dương lâm ấp tứ âm, trông cho quân tử đồng chí.
Chữ Lâm ở Tam, Tứ, Ngũ, Thượng là tứ âm lâm tiếp với nhị dương, lại trông cho tiểu nhân phục tòng với quân tử. Vậy nên, lời hào Sơ, hào Nhị sợ quân tử có chia bề mà phải nói hàm lâm. Đến như: Tam, Tứ, Ngũ, Thượng thảy trông cho tiểu nhân cảm cách, nhưng duy hào Tam cam lâm là một tay gian xảo nên nói vô du lị. Hào Tứ chí lâm, hào Ngũ trí lâm, thảy là hạng người biết thân quân tử nên được chữ vô cựu, chữ cát. Đến hào Thượng đôn lâm là hết lòng trung hậu mà lâm tiếp với bậc quân tử; trong một nước, một xã hội nếu được như thế thời hạnh phúc không biết bao.
Bởi vì quân tử mà quân tử là sự thường, tiểu nhân mà hóa ra quân tử mới là hạnh phúc cho nhân loại. Vì vậy, Hào từ q
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Địa Trạch Lâm là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Địa Trạch Lâm Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 19 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Địa Trạch Lâm Là Gì?
Thượng quái là Khôn, tượng đất; hạ quái là Đoài, tượng đầm. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 臨: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Địa Trạch Lâm. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 18: Sơn Phong Cổ · Quẻ 20: Phong Địa Quán


Hotline