Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng: Không Vọng Và Sự Ngay Thẳng, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Thiên Lôi Vô Vọng số 25: Càn trên, Chấn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng (无妄) là quẻ số 25 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Càn (trời), hạ quái là Chấn (sấm). Vô Vọng đặt trọng tâm vào không vọng động và sự đúng đắn. Lời quẻ có điều kiện rõ về chính và bất chính, nên không thể rút gọn thành lời hứa rằng mọi sự bất ngờ đều tốt.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng Là Gì?

Số thứ tự 25/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Thiên Lôi Vô Vọng — 无妄
Thượng quái Càn — Trời
Hạ quái Chấn — Sấm
Hào dương 4
Hào âm 2

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Chấn, ba hào sau tạo thượng quái Càn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

无妄:元亨。利貞。其匪正有眚,不利有攸往。

Nguyên Văn Thoán Truyện

无妄,剛自外來,而為主於內。動而健,剛中而應,大亨以正,天之命也。其匪正有眚,不利有攸往。无妄之往,何之矣? 天命不佑,行矣哉?

Nguyên Văn Đại Tượng

天下雷行,物與无妄;先王以茂對時,育萬物。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Kiền trên; Chấn dưới Quẻ này là quẻ Thiên Lôi Vô Võng. Chấn hạ cũng là Nội Chấn; Càn thượng cũng là Ngoại Càn. Càn Thiên, Chấn Lôi, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Lôi Vô Võng. TỰ QUÁI Tự quái: Phục tắc bất vọng hĩ, cố thụ chi dĩ Vô Võng. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Phục tiếp lấy quẻ Vô Võng là cớ vì sao? Bởi vì đã Phục rồi thời không [làm] càn nên sau quẻ Phục tiếp lấy quẻ Vô Võng. Võng nghĩa là càn. Người ta sở dĩ làm càn là vì quên mất thiên lí. Hễ đã biết trở lại theo thiên lí thời có làm càn nữa đầu.

Vậy nên sau quẻ Phục, tiếp lấy quẻ Vô Võng. Theo về tượng quẻ, Càn trên, Chấn dưới; Chấn nghĩa là động, Càn nghĩa là trời, phát động bằng tư tưởng, hoạt động bằng hành vi mà tất thảy hợp với lẽ trời, ấy là Vô Võng. Nếu có mảy may vì nhân dục mà động thời là Võng. SOÁN TỪ Vô Võng, nguyên hanh, lị trinh, kì phỉ chính, hữu sảnh, bất lị hữu du vãng. Nghĩa hai chữ Vô Võng giải thích cho đến nơi thời chỉ duy thiên đạo với thánh nhân mới đúng được hết. Nguyên lai, trong vũ trụ, sẵn có lí tự nhiên, theo ở lí tự nhiên, không cần phải tạo tác, đó là vô võng thuộc về thiên đạo.

Đến như các sự vật thời có lí đương nhiên, không pha vào tư ngụy. Đó là vô võng thuộc về thánh đức. Nhưng mà vì có tự nhiên mới đẻ ra đương nhiên, lại lấy đương nhiên mà hợp với tự nhiên, ấy là thánh tức thiên, thiên tức thánh mà tổng chi gọi bằng Vô Võng. Trong Phật học rất ghét là chữ võng mà Dịch rất quý là vô võng, người ta nếu làm đến vô võng thời đạo hợp với trời, đức hợp với thánh, chắc được đại hanh. Vô võng là tạo nhân, đại hanh là kết quả, nên nói rằng: Vô Võng nguyên hanh.

Tuy nhiên, thường tình người ta, phần nhiều là có tư dục tà tâm, họa may trong một đời người có một tư tưởng gì, một hành vi gì, tình cờ mà hợp được vô võng, chốc phút thoảng qua lại võng ngay, thế không phải là vô võng. Hễ đã vô võng tất phải vô võng hoài hoài, tự tiểu chí đại, tự thỉ chí chung, không một tí gì không hợp với chính lí nên thánh nhân lại dạy cho hai chữ lị trinh, nghĩa là vô võng là cốt hợp với chính lí. Tà tâm tức là võng, nên lại tiếp lấy câu: Kì phỉ chính, hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, nghĩa là có việc gì không phải chính lí, tất nhiên có tội lỗi mà không lị ở làm mỗi việc.

PHỤ CHÚ: Theo về bản dịch đời sau thời chữ Võng là càn, theo về bản cổ dịch thời chữ Võng là trông, nghĩa là việc gì chính đạo, chính lí thời cứ làm, không kì vọng sở đắc, hoặc vì danh dự mà làm, hoặc vì công lí mà làm, tổng chi hữu sở kì vọng mà làm. Đã hữu sở kì vọng thời không phải là vô võng, tất phải vô sở kì vọng mà cứ làm, mới là vô võng. Thầy Trương có câu: Vô sở vị nhi vi giả, quân tử dã, nghĩa là: Đã làm điều phải, tự nhiên mà làm, ấy là quân tử.

Câu vô sở vị nhi vi là đúng với nghĩa chữ Vô Võng. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Vô võng, cương tự ngoại lai nhi vi chủ ư nội. Động nhi kiện, cương trung nhi ứng, đại hanh dĩ chính, thiên chi mệnh dã. Kì phỉ chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, vô võng chi vãng, hà chi hĩ, thiên mệnh bất hựu, hành hĩ tai. Soán viết: Vô võng, cương tự ngoại lai nhi vi chủ ư nội. Quẻ Vô Võng này sở dĩ thành quẻ do gốc ở Nội Chấn, Chấn nguyên là Khôn, hào Sơ Khôn biến ra nhất dương mà làm thành Chấn.

Thế là hào dương tự ngoại lai mà làm chủ cho Nội Quái. Chữ vi chủ ngậm có hai nghĩa: Chấn động thể làm chủ cho Vô Võng mà hào Sơ lại làm chủ cho Chấn, có hào Sơ mới thành quẻ Chấn, lại có Chấn mới thành được quẻ Vô Võng nên hào Sơ làm chủ cho quẻ Vô Võng. Động nhi kiện, cương trung nhi ứng, đại hanh dĩ chính, thiên chi mệnh dã. Thể dưới là Chấn động, thể trên là Càn kiện, thế là động bằng một cách cương kiện. Ngũ có đức dương cương ở vị trung chính. Nhị cũng lấy trung chính ứng với Ngũ.

Như thế là hợp với đạo Vô Võng, đã vô võng tất được đại hanh mà chính. Đó há phải khôn riêng của người mà làm nên đâu, vẫn chân lí tự nhiên của trời là như vậy. Kì phỉ chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, vô võng chi vãng, hà chi hĩ, thiên mệnh bất hựu, hành hĩ tai. Quái từ lại có câu: Kì phì chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, bởì vì, hễ Vô Võng tất là chính, đã chính rồi thời không nên tha thích. Nếu bỏ chính mà tha thích thời còn đi vào đâu được ( Chi nghĩa là đi; hà chi nghĩa là đi đâu được).

Bởi vì trái với chính lí, tức là trái với đạo trời, tất nhiên trời không bênh vực, trời không bênh vực mà còn đi được hay sao? Chữ hĩ tai ý là không đi được; chữ hĩ cắt nghĩa theo chữ hồ. PHỤ CHÚ: Câu vô võng chi vãng khó giải thích lắm, vì văn lí thừa tiếp câu: Phỉ chính hữu sảnh. Nếu ở dưới chữ vô võng thêm hai chữ phỉ chính vào mà đọc thành phỉ chính chi vãng thời thông ngay, ý nói rằng: Ở giữa thì Vô Võng mà mình lại lấy phỉ chính mà vãng thời đi đâu được, nhưng vì Kinh văn quá giản tắt, chúng ta nên hội ý, không nên nệ vào chữ.

Nếu đọc suông vô võng chi vãng thời không chạy xuống được mấy câu dưới. Đó cũng là cách học nghĩa Kinh. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Thiên hạ lôi hành, vật dữ vô võng, tiên vương dĩ mậu đối thì, dục vạn vật. Đây cũng là một cách biến hóa trong Tượng Truyện. Mỗi nơi, chữ tên quẻ thời cắt nghĩa bằng tên quẻ; nhưng Tượng Truyện đây thời chữ vô võng lại không cắt nghĩa bằng tên quẻ mà cắt nghĩa bằng đạo lí quẻ, nên Tượng nói rằng: Ở dưới trời mà có sấm đi. Thế là nhị khí hòa hợp, âm, dương xát nhau mà thành ra tiếng.

Lúc bấy giờ giống trập trùng kinh động, giống cây cỏ mậm măng, vật nào vật nấy tất thảy phú dữ cho nó một cách vô võng, tức là tính mệnh của nó. Tiên vương xem tượng ấy, thể đạo trời mà sắp đặt một cách nhân dân ái vật, mậu đối thiên thì, dưỡng dục khắp vạn vật ( Mậu: thịnh; đối: thuận hợp; dục: nuôi nấng; chữ Mậu trùm cả năm chữ đối thì, dục vạn vật ). Đối phó với thì trời, trưởng dục được vạn vật mà công nghiệp lại cực kì thịnh. Đó là vô võng của thánh nhân mà in như vật dữ vô võng của thiên đạo.

Đối thì, tỉ như: mùa Xuân thời dạy dân cày; mùa Thu thời dạy dân gặt; vì phòng ngự nước lụt mà dạy dân làm kiều lương; vì phòng ngự Đông hàn mà dạy dân tàm tang trừ súc, tất thảy là đối thì dục vật

Sáu Hào Của Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初九:无妄,往吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Vô võng, vãng cát. Sơ Cửu có đức dương cương làm chủ cho Nội Quái, chính là một hạng người có đức chí thành, trong lòng hồn nhiên thiên lí, thiệt là vô võng; vô võng mà tấn hành thời không chốn nào không tốt. Tượng viết: Vô võng chi vãng, đắc chí dã. Cửu gốc là thể Càn, Sơ lại về thể Chấn, ấy là động mà hợp đạo trời. Có đức chí thành vô võng như thế thời tu thân chắc thân phải chính, xử sự chắc sự phải thuận, cảm hóa người thời người phải hóa, có đi đâu mà không thuận thỏa chí mình nữa rư?

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:不耕穫,不菑畬,則利有攸往。

Phan Bội Châu chú giải:

Bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lị hữu du vãng. Lời hào Lục Nhị là mượn việc người cày để hình dung tâm lí vô võng. Canh: cày là việc bắt đầu của nhà nông; hoạch: gặt lúa là việc thành công của nhà nông; tri: ruộng mới phá được một năm là việc bắt đầu của nhà khẩn ruộng; dư: ruộng thuộc đã ba năm là việc thành công của nhà khẩn ruộng. Tòng lai, sự lí trong thiên hạ, đã có tạo nhân, tất có kết quả mà kết quả việc trước tức là tạo nhân cho việc sau. Hễ đã canh, tất nhiên có hoạch, hễ đã tri, tất nhiên có dư.

Đó là sự lí tự nhiên mà cũng là công việc đang nhiên; thuận lí ứng sự không đặt tự ý mình vào. Tỉ như: Một nhà nông phu, lúc đương nên canh mà canh, không cần nghĩ đến canh để mà hoạch, gặp lúc đương tri mà tri, không để ý đến tri để mà dư. Nghĩa là thuận lí tự nhiên mà làm, nhân việc đang nhiên mà làm, bề ngoài hình thức vẫn có tạo tác mà bề trong tình thần in như một cách vô vi, tâm lí người vô võng là như thế. Lục Nhị cư trung đắc chính lại ứng với hào Ngũ cũng trung chính, ở vào động thể mà có tính thuận là động mà hay thuận với trung chính, thiệt là một hạng người vô võng.

Thánh nhân lấy lời tỉ dụ mà hình dung cho đến tâm lí nên nói rằng: Bất canh hoạch, bất tri dư, giảng nghĩa vắn tắt thời chỉ nói rằng: Chẳng ở lúc canh mà nghĩ đến hoạch, chẳng ở lúc tri mà nghĩ đến dư. Hễ nghĩa lí đáng làm mà không hệ công mưu lị, thế là vô võng. Đã vô võng thời lị hữu du vãng. PHỤ CHÚ: Xem như nghĩa hào này cũng có thể gọi bằng vô võng chi phúc, canh tất nhiên được hoạch, tri tất nhiên được dư, không cần phải bo bo cầu phúc mà phúc tự nhiên đến, cũng là ý nghĩa Hào từ này.

Tượng viết: Bất canh hoạch, vị phú dã. Hào từ sở dĩ nói rằng: Bất canh hoạch, nghĩa là: Dầu có canh, có tri mà không phải để ý đến hoạch dư cho được giàu vậy. Canh tri là công việc làm; hoạch dư là hiệu quả lợi, không phải nghĩ được hoạch dư mà làm nên Tượng Truyện nói rằng: Vị phú. Chữ vị như nghĩa chữ phi, như nghĩa chữ vị ở câu: Vị thuận mệnh quẻ Lâm, vị là chẳng phải. Chữ phú này như nghĩa chữ phú ở câu: Phi phú thiên hạ dã ở sách Mạnh Tử

Hào 3 — Lục Tam

Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六三:无妄之災,或繫之牛,行人之得,邑人之災。

Phan Bội Châu chú giải:

Vô võng chi tai, hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai. Trước hết, thích nghĩa đen theo câu, theo chữ. Tai thuộc về vô võng, thí dụ có kẻ cột trâu cạnh đường, người đi đường được lấy mà người trong ấp đó trở lại bị tai hại là vì người mất trâu nghi oan cho ấp nhân trộm trâu. Nói cho đúng, thời ấp nhân bị tai ách, giữa đường quàng vào cổ, nhưng tai đó vẫn là thình lình tự nhiên đưa đến nên nói rằng: Vô võng chi tai. Nguyên theo thông lệ trong Kỉnh Dịch: Hễ sáu hào ở quẻ nào, mỗi một hào xử một địa vị hào ấy mà cũng tất thảy xử chung vào thời đại quẻ ấy.

Sáu hào ở quẻ Vô Võng là ở vào thì Vô Võng, vị Vô Võng, tất thảy là Vô Võng cả. Duy tùy giữa bản thân hào mà khác nhau: Hào Lục vị Tam vẫn bất trung, bất chính, chính là một người vọng, ở thì Vô Võng mà mình lại vọng tất bị mắc tai, nhưng tai đó cũng là vô cố mà mắc, nên nói rằng: Vô võng chi tai. Tượng như người đi đường thời được trâu mà những người ở chốn mất trâu đó lại bị hiềm nghi về tội giấu trâu, thiệt là tai vô võng đó vậy. Bởi vì tai đó không tưởng có mà có, ở vào thì Vô Võng thời như thế cũng là vô võng.

Tượng viết: Hành nhân đắc ngưu, ấp nhân tai dã. Trâu thời người đi đường được mà tai thời khiến cho ấp nhân chịu, ở vào đời Vô Võng, thế chẳng phải là tai vô võng hay sao?

Hào 4 — Cửu Tứ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九四:可貞,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Khả trinh, vô cựu. Cửu Tứ dương cương ở về Càn thể, trên dưới không ứng dự với ai là một hạng người cảnh giới vô tư. Thiệt là một người vô võng đó vậy nên bền chặt giữ lấy tư cách ấy, tự nhiên được vô cựu. PHỤ CHÚ: Chữ trinh thường thích có hai nghĩa: Một nghĩa trinh là chính, một nghĩa trinh là bền. Hễ chữ lị trinh thời kiêm cả hai nghĩa: chính và bền; còn như chữ khả trinh thời trọng về nghĩa bền, cũng có nghĩa là cố thủ; như chữ bất khả trinh ở quẻ Cổ thời chỉ thích nghĩa là bền mà không có nghĩa trinh là chính.

Nếu trinh là chính thời không bao giờ bất khả. Xem Văn Kinh chớ nhận lầm những chốn ấy. Tượng viết: Khả trinh vô cựu, cố hữu chi dã. Khả trinh vô cựu là bảo phải bền giữ nguyên sở hữu của mình vậy (Chữ hữu, như nghĩa chữ thủ là giữ)

Hào 5 — Cửu Ngũ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九五:无妄之疾,勿藥有喜。

Phan Bội Châu chú giải:

Vô võng chi tật, vật dược, hữu hĩ. Cửu Ngũ dương cương ở chính giữa thể Càn, đủ đức trung chính, lại ở tôn vị, dưới có hào Nhị úng với mình cũng trung chính, thiệt là vô võng đến cực điểm, ở thì Vô Võng thiệt không còn gì hơn nữa. Nêu chẳng may có đụng phải tật bệnh gì, cũng chẳng qua tai bay vạ bốc thời chỉ nên bình tâm thuận lí, yên xử như thường mà tai họa tự nhiên tiêu tán, nên nói rằng: Vô võng chi tật, vật dược hữu hỉ, nghĩa là: Đã vô võng rồi, nếu tình cờ mà có tật cũng là tật vô võng, chớ dùng đến thuốc mà tự nhiên mừng được bệnh lành.

Chữ vật có nghĩa là cấm chỉ, bởi vì vô võng mà được tật là tật vô võng, nếu đưa thuốc vào té ra võng. Vậy nên cấm chỉ dùng thuốc. PHỤ CHÚ: Hào từ Cửu Ngũ này tỉ như đại thánh, đại hiền ngày xưa, rủi gặp hoạn nạn, hoặc bị sàm báng, các ngài cũng chỉ tố nhi vi hành mà tự nhiên sàm báng, hoạn nạn tiêu diệt hết. Như vua Văn Vương bị tù ở Dữ Lí, như Đức Khổng Tử tuyệt lương ở Trần Thái, chỉ có vô võng chi tất, có cần dùng đến thuốc đâu. Phương Thư có câu: Kiến quái, bất quái, kì quái tự diệt. cũng tương tự như nghĩa hào này.

Tượng viết: Vô võng chi dược, bất khả thí dã. ( Thí: thử nếm, cũng có nghĩa là nếm chút đỉnh). Hễ thuốc là dùng để chữa bệnh võng, bây giờ vô võng mà lại dùng thuốc thời lại hóa ra võng. Vậy nên tật vô võng chớ nên nếm thử thuốc

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:无妄,行有眚,无攸利。

Phan Bội Châu chú giải:

Vô võng hành, hữu sảnh, vô du lị. Thượng Cửu ở cuối cùng quẻ Vô Võng là vô võng chi cực. Tuy vẫn vô võng, nhưng đã cùng cực thời cũng chẳng hành động gì được nữa, ở lúc đó chỉ nên an lặng chờ thời, như nghĩa câu trong Trung Dung: Cư dị dĩ sĩ mệnh. Nghĩa là, cư xử bằng một cách thản dị, để mà chờ mệnh trời. Nếu không biết lẽ ấy mà toan võng động, võng hành, tất nhiên có tai sảnh mà cũng chẳng làm gì lị. Tượng viết: Vô võng chi hành, cùng chi tai dã. Vô võng đã cực rồi mà còn muốn tấn hành, tất nhiên bị tai hại vì cùng cực vậy.

PHỤ CHÚ: Thầy Hồ Văn Phong có nói rằng: Người khéo học Dịch quý nhất là biết chữ thì. Hễ mỗi một quẻ tức là một thời đại, mà một hào trong quẻ tức là những hạng người ở thời đại ấy. Xem như quẻ Vô Võng, toàn quẻ là thuộc về thời đại Vô Võng, nhưng mỗi hào tất lại có thời đại riêng của mỗi hào; hào Sơ với hào Nhị vì sao mà vãng cát lại lị hữu du vãng? Đó là vì, thì nên động mà động thời động là vô võng. Tứ sở dĩ khả trinh, Ngũ sở dĩ vật dược là thì nên tĩnh mà tĩnh, thời tĩnh là vô võng.

Đến như Thượng Cửu thời sao mà hành hữu sảnh? Đó là vì thì nên tĩnh mà động thời động là võng. Tổng chi, ở một thời đại chung là Vô Võng mà té ra lành, dữ, hay, dở khác nhau thời lại vì thời đại riêng của từng người. Hiểu được lẽ ấy thời chúng ta ở đời phải có bộ óc xét thì, lại phải có cặp mắt xem thì; một phương diện thời soi thấu thời đại chung của đời, một phương diện thời cân lường thời đại riêng của mình. Làm thế nào cho hai phương diện đó, điều hòa thích hợp được, ấy mới là thức thì mà cũng là biết học Dị

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thiên Lôi Vô Vọng là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 25 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thiên Lôi Vô Vọng Là Gì?

Thượng quái là Càn, tượng trời; hạ quái là Chấn, tượng sấm. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 无妄: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thiên Lôi Vô Vọng. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 24: Địa Lôi Phục · Quẻ 26: Sơn Thiên Đại Súc

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline