Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑) là quẻ số 21 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Ly (lửa), hạ quái là Chấn (sấm). Phệ Hạp dùng hình tượng cắn hợp để nói về vật cản cần được xử lý. Quái từ và lời tượng liên hệ đến việc xét xử, làm rõ hình phạt và phép tắc trong bối cảnh cổ đại.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Là Gì?
| Số thứ tự | 21/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Hỏa Lôi Phệ Hạp — 噬嗑 |
| Thượng quái | Ly — Lửa |
| Hạ quái | Chấn — Sấm |
| Hào dương | 3 |
| Hào âm | 3 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Chấn, ba hào sau tạo thượng quái Ly. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
噬嗑:亨。利用獄。
Nguyên Văn Thoán Truyện
頤中有物,曰噬嗑,噬嗑而亨。剛柔分,動而明,雷電合而章。柔得中而上行,雖不當位,利用獄也。
Nguyên Văn Đại Tượng
雷電噬嗑;先王以明罰敕法。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Ly trên; Chấn dưới Quẻ này là quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp. Chân hạ cũng là Nội Chấn. Li thượng cũng là Ngoại Li. Hỏa thượng, Lôi hạ, nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Lôi Phệ Hạp. TỰ QUÁI Tự quái: Khả quan nhi hậu hữu sở hợp, cố thụ chi dĩ Phệ Hạp, Hạp giả hợp dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Quán, tiếp lấy quẻ Phệ Hạp là vì cớ sao? Hễ vật lí nhân tình tất phải có khả quan mà sau mới có chốn hợp, nên sau quẻ Quán, tiếp lấy quẻ Phệ Hạp. Hạp nghĩa là hợp.
Khả quan nghĩa là coi xem được; hạp nghĩa là hợp; phệ nghĩa là cắn. Ý nghĩa sắp đặt tên quẻ, sẽ xem ở sau Soán từ, Soán Truyện thời hiểu rõ, đây không phải viết vào. SOÁN TỪ Phệ Hạp, hanh, lị dụng ngục. ( Phệ Hạp nghĩa là cắn để cho hợp). Tòng lai, việc trong thiên hạ, gia đình thời phụ tử, phu phụ, huynh đệ; trong quốc gia thời quân thần, quân dân, thượng hạ; trong xã hội thời bầu bạn, thầy trò, tất thảy trước có hợp được mà sau mới thông. Phụ tử, phu phụ, huynh đệ hợp thời gia đạo hanh; quân thần, quân dân, thượng hạ họp thời quốc sự hanh; bạn bầu, thầy trò hợp thời xã hội hanh; tuyền loài người họp thời thế giới hanh.
Nhưng sở dĩ hợp được rất khó, tuy nguyên nhân phức tạp vẫn rất nhiều, nhưng nói tóm lại thời chỉ vì ở trung gian có một giống gián cách, hoặc gián cách ở trung gian thượng, hạ, hoặc gián cách ở trung gian nội, ngoại. Giống gián cách đó nếu không trừ khử xong thời không bao giờ hợp được, mà muốn trừ khử giống gián cách đó, tất phải có một thủ đoạn bằng cắn, tượng như bị giống gián cách mắc ngang ở giữa miệng mà hàm trên hàm dưới không hợp được với nhau, tất phải dụng đến sức hai hàm răng cắn cho thiệt mạnh, tất nhiên giống gián cách đó phải bể tan mà hai hàm mới hợp khít được như thường.
Vậy nên đặt tên quẻ bằng Phệ Hạp. Phệ Hạp nghĩa là cắn tan giống gián cách mà hợp được, hễ đã hợp được thời tất nhiên hanh thông. Soán từ đây lấy nghĩa bằng một việc rất lớn là việc trì thiên hạ. Trì thiên hạ cần phải trừ khử gián, mà những giống gián đó là gì? Tức là một bọn gian tà sàm nịnh, nó thường lọt vào khoảng giữa. Người trên thì bị nó bưng bít, người dưới thời bị nó che lấp, nên nỗi thượng tình không thông đến hạ, hạ tình không đạt đến thượng. Thượng hạ bất hợp mà họa loạn mới nảy ra hoài hoài.
Suy cứu cho đến nguyên nhân thời tội tại những giống gián cách, tức là bọn gian tà sàm nịnh. Vậy nên Thánh vương trì thiên hạ, tất phải ra sức cắn những giống ấy. Cắn thời dụng bằng giống gì? Tất phải dụng đến hình ngục. Hình ngục là tài liệu của thánh nhân dùng để cắn gián cách, vả lại theo ở tượng quẻ: Chấn lôi, Li hỏa chung nhau thành quẻ. Lôi là uy rất mạnh, hỏa là minh rất sáng. Có uy, có minh thời làm việc hình phạt mới đúng. Vậy nên sau trừ khử được bọn gián cách là bọn gian tà sàm nịnh.
Sau khi trừ khử được bọn gián cách rồi thời gian tà sàm nịnh không lọt được vào mà thiên hạ được hòa bình vô sự, ấy là Phệ Hạp mà hanh, nhưng tất phải lợi dụng ngục mới được. Trình Truyện có câu: Gián cách giả, thiên hạ chi đại hại dã. nghĩa là: Những giống gián cách là hại rất lớn ở trong thiên hạ đó vậy. Phệ hạp giả, trì thiên hạ chi đại dụng dã. nghĩa là: Việc phệ hạp là công dụng lớn ở trong đạo trì thiên hạ đó vậy. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Di trung hữu vật, viết Phệ Hạp, Phệ Hạp nhi hanh.
Cương, nhu phân, động nhi minh, lôi điện hợp nhi chương. Nhu đắc trung nhi thượng hành, tuy bất đáng vị, lơi dụng ngục dã. Soán viết: Di trung hữu vật, viết Phệ Hạp. Đây là xem thể quẻ mà thích nghĩa tên quẻ, quẻ này Sơ Cửu, Thượng Cửu là hai hào vạch liền, tượng như hàm trên, hàm dưới miệng người ta. Trung gian ba hào vạch đứt đôi, tượng là trong miệng trống không, chét một hào dương vạch liền ở trung gian, cách rẽ trên, dưới, tượng là một cái que cản ngang vào giữa miệng. Vì giống gián cách đó, tất phải dùng sức cắn mà trừ khử đi thời hai hàm mới hợp được với nhau.
Thế là Phệ Hạp ( Phệ Hạp: có cắn mới hợp được; di: hai lỗ má). Phệ Hạp, nhi hanh. Vì có gián cách nên không thông được, cắn giống gián cách thời hợp, hợp thời thông. Cương, nhu phân, động nhi minh, lôi điện hợp nhi chương. Lại xem về đức quẻ, hào cương, hào nhu chia nhau mà lại cân như nhau. Cương ba hào, nhu ba hào là cương, nhu phân. Thế là có đức cương, nhu tương tế. Hạ Chấn, Thượng Li, Chấn có tính động, Li có tính minh là động nhi minh. Hễ động làm việc gì mà minh kiến được việc ấy là đủ tài xét ngục.
Chân là lôi, Li là điện, Lôi thời có uy, điện thời hay dọi; Chấn, Li hợp thể là lôi điện hợp nhi chương. Đã có uy lại hay soi dọi, cũng là cái trì ngục, có tài đức như thế đem ra dùng để làm phệ hạp, chắc là tốt lắm. Nhu đắc trung nhi thượng hành, tuy bất đáng vị, lợi dụng ngục dã. Lại nói riêng về Lục Ngũ: Ngũ là một người chủ tể trong thì Phệ Hạp, âm nhu đắc trung mà lên ở ngôi cao là thượng hành. Hào Nhu ở vị dương, theo lệ thường vẫn là bất đáng vị, nhưng nói bằng cách dụng ngục thời có cương mà giúp cho nhu, có nhu mà giúp cho cương, lại là thủ đoạn trì ngục rất cao, nên nói: Lợi dụng ngục.
PHỤ CHÚ: Thích ba chữ lợi dụng ngục ở Soán từ đáng lẽ là chuyên trọng về đức cương, nhưng Soán Truyện đã nói rằng: Cương, nhu phân, lại nói rằng: Nhu đắc trung, thời tự hồ lấy nhu làm quý. Vì sao vậy? Ở trong đạo trì ngục, có minh như điện, có uy như lôi. Nếu chỉ lại chuyên dụng cương mà thôi thời không khỏi lạm dụng quyền uy mà trái hẳn với nghĩa hiếu sinh bất sát, nên tất phải pha vào một nửa tính nhu. Nhu mà lại đắc trung, vả thêm vào một nửa tính cương là rất hợp với tư cách trì ngục.
Kinh Thư có câu: Cao minh nhu khắc nghĩa là: người có tài cao minh, thường sợ quá cương, phải lấy nhu mà chế khắc vào, chính hợp như ý Soán Truyện đây. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Lôi điện Phệ Hạp. Tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp. Trên Li, dưới Chấn, tượng là điện với lôi đồng thì phát hiện, cũng là minh với uy đồng thì tịnh dụng, tượng quẻ Phệ Hạp là như thế. Tiên vương xem tượng ấy mà biện minh hình phạt, phân biệt cho ra điều gì đáng trọng, điều gì đáng khinh, chỉnh đốn pháp luật, sắp đặt những điều gì đáng bớt, điều gì đáng thêm; sắc cũng nghĩa như chữ “sức” nghĩa là sắp đặt cho có thứ tự, tử tế
Sáu Hào Của Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初九:屨校滅趾,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Lí giảo, diệt chỉ, vô cựu. Toàn quẻ này chuyên nói về việc hình ngục nên trong quẻ sáu hào chia làm hai hạng người. Sơ với Thượng Cửu thảy là người không chức vị, tượng là người phải thụ hình ở giữa bốn hào, tượng là người có chức vị mà được quyền dụng hình. Hào Sơ Cửu này ở về đầu thì Phệ Hạp, lại ở dưới hết quẻ là một hạng tiểu dân tại hạ, đương lúc đầu mới dụng hình, vì tội đương nhỏ nên hình cũng khinh, tượng như đạp lấy cùm chân mà đứt mất ngón chân cái, nhưng cũng may vì thế mà không tội lỗi lớn.
( Giảo: cùm chân; lí giảo là chân đạp lấy cùm; chỉ: ngón chân cái). Hệ tử nói rằng: Tử viết, tiểu nhân bất sỉ bất nhân, bất úy, bất nghĩa, bất kiến lị, bất khuyến, bất uy, bất trừng, tiểu trừng nhi đại giới, thử tiểu nhân chi phúc dã, nghĩa là: Mới có tội nhỏ mà trừng trị ngay thời nó biết răn đe mà không làm tội lớn. Đó chính là làm phúc cho tiểu nhân vậy. Bởi vì biết răn đe mà khỏi mắc tội lớn nên nói rằng vô cựu. Diệt chỉ là đau ở hiện tại; vô cựu là phúc ở tương lai.
Tượng viết: Lí giảo diệt chỉ, bất hành dã. Trừng ác ở lúc sơ thỉ mà phải chịu hình lí giảo diệt chỉ là cốt cho nó không làm điều ác nữa vậy. PHỤ CHÚ: Hào từ đây cốt tỏ rõ ý thánh nhân dụng hình, không phải vì ghét người mà dụng hình, vì thương người mà dụng hình. Bởi vì một hạng ngu ngoan nó chỉ biết sợ phép mà không biết phục thiện, nên muốn cho nó không hành ác, không phạm đại tội, tất phải bắt nó chịu tiểu hình. Vì vậy nên Hào từ mừng cho nó được vô cựu mà tượng từ lại nói bất hành dã
Hào 2 — Lục Nhị
Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六二:噬膚滅鼻,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Phệ phu, diệt tị, vô cựu. Bôn hào ở giữa quẻ là hạng người có chức vị được dụng hình, ở vào thì Phệ Hạp thời là những hạng người có quyền phệ, nên Hào từ dùng chữ phệ. Lục Nhị cư trung đắc chính mà Lục Ngũ lại ứng vào mình, chính là người mà quốc trưởng ủy cho quyền trì ngục. Nhân vì Nhị cưỡi hào Sơ, Sơ dương cương có ý ngoan ngạnh nên thi hình với Sơ có ý khó khăn, nhưng Nhị có đức trung chính, thu phục được người, Sơ tuy cương cường ngoan ngạnh mà đụng lấy tay Nhị cũng phải phục ngay, tượng như cắn người mà đụng nơi thịt mỏng.
Duy vì Sơ ngoan ngạnh nên dùng hình cũng có hơi mám, tượng như người bị cắn mà đứt mất mũi ( Phệ phu: cắn mảnh thịt mỏng; tị: mũi). Người thụ hình bị diệt tị, vẫn cũng khá đau, nhưng đau đó là tội tại người thụ hình, chẳng phải tội tại người dụng hình nên nói vô cựu, nghĩa là: Nhị vẫn trung chính không tội lỗi gì. Tượng viết: Phệ phu diệt tị, thừa cương dã. Nhị vì cưỡi lấy hào Sơ, Sơ là cương cường, dụng hình với người cương cường không nghiêm không được. Vì vậy, nên cắn tuy nhẹ mà thế phải có đau, sở dĩ Hào từ nói phệ phu diệt tị đó vậy
Hào 3 — Lục Tam
Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六三:噬昔(一作臘)肉,遇毒;小吝,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Phệ tích nhục, ngộ độc, tiểu lẫn, vô cựu. Lục Tam: cũng là người có quyền dụng hình, nhưng vì Lục cư Tam xử vào vị chênh lệch, đã bất chính lại bất trung. Tuy có quyền dụng hình, nhưng hình người mà người không phục, e lạí bị người oán hại mình, tượng như cắn đụng phải mảnh thịt toàn xương lại ngộ độc. Như thế thiệt đáng xấu hổ, nhưng vì xử vào thì Phệ Hạp, cắn để cho hợp là nghĩa vụ đương nhiên, Tam chỉ làm nghĩa vụ của mình, dầu đáng xấu hổ chút đỉnh mà kết quả không tội lỗi gì.
Tượng viết: Ngộ độc, vị bất đáng dã. Lục Tam cũng phệ như các hào, vì sao lại ngộ độc? Bởi vì địa vị Tam sơ xử đứng vào địa vị khó khăn nên bắt tay làm việc dụng hình cũng thường gặp khốn nạn, nên Tượng Truyện nói rằng: sở dĩ ngộ độc là vì vị bất đáng vậy,
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:噬乾胏,得金矢,利艱貞,吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Phệ can trị, đắc kim thỉ, lị gian, trinh, cát. Cửu là dương cương, đã cương thời trực. Tứ là vị gần với chí tôn ở thì Phệ Hạp, Tứ là một người có trách nhiệm rất lớn. Vì có đức cương trực, lại ở vào thể Li là có tài minh đoán, lấy bậc người ấy mà trì ngục, tất nhiên giữ được đạo cương trực, đầu đụng phải hạng người có thế lực ngoan cường, cũng cắn được dễ như chơi, tượng như cắn miếng thịt phơi khô. (Can. phơi khô; trị: thịt liền xương.) Thịt liền xương mà lại phơi khô là giống khó cắn, nhưng lấy Cửu Tứ thời cắn xong ngay mà vẫn hoàn toàn được đạo cương trực, tượng như được mũi tên bịt bằng sắt ( Thỉ: mũi tên; kim: sắt).
Lại vì Cửu Tứ tính cương thể minh, cương minh thời thường hay quả quyết quá, quả quyết thời e có việc lầm, nên thánh nhân lại răn cho chữ gian ( Gian: phải biết khó khăn). Tứ ở vào vị nhu, nhu thời sợ không được bền vững, nên thánh nhân lại răn cho chữ trinh ( Trinh: giữ chính bền vững). Hễ người trì ngục như Cửu Tứ, đã có đức cương, tài minh mà lại tiểu tâm biết khó, giữ chính được bền, thời trong đời Phệ Hạp kết quả rất tốt. Tượng viết: Lị gian trinh cát, vi quang dã. Cửu Tứ mà phải có lời răn lị gian trinh là vì địa vị Cửu Tứ dương xử vị âm, có hiềm nghi là bất trung chính, thời kể về đạo Phệ Hạp chưa lấy gì làm quang đại vậy, nên tất phải gian trinh mới được cát
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:噬乾肉,得黃金,貞厲,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Phệ can nhục, đắc hoàng kim, trinh lệ, vô cựu. Lục Ngũ tuy thể âm nhu nhưng đắc trung, lại Ngũ là cương vị, nhu pha cương vào ở kề bên mình, lại có Cửu Tứ là một người minh đoán, giúp sức với Ngũ làm công việc Phệ Hạp, chắc cắn vào đâu thời nó phải chịu ngay, dầu nó có ngoan cường chút đỉnh, cũng chẳng ngại gì, tượng như cắn miếng thịt khô, vẫn có tí dai, nhưng mà cắn đứt ( Can nhục: thịt khô). Vì vị tôn đức trung của Ngũ như thế nên hình người thời người phải phục, chẳng những cắn được mà kết quả lại được danh dự rất quý báu, tượng như được vàng sắc vàng.
Hoàng là sắc trung, hình dung đức trung của Ngũ. Kim là của quý, hình dung vị tôn của Ngũ. Tuy nhiên, đương thì Phệ Hạp cốt ở công việc trừ gián, ở cao chừng nào thời những giống làm gián cách càng lớn chừng nấy. Nếu thị thường khinh dị, tất gián cách dễ sinh, nên thánh nhân lại răn cho rằng: Phải trinh lệ mới được vô cựu ( Trinh: giữ chính bền vững; lệ: lòng thường lo sợ). Tượng viết: Trinh lệ, vô cựu, đắc đáng dã. Ngũ sở dĩ được vô cựu vì công việc Cửu Ngũ làm được đúng, mà gia dĩ trinh lệ thời càng đắc đáng nên kết quả được vô cựu.
PHỤ CHÚ: Bốn hào ở giữa quẻ rặt là người có quyền dụng hình, chính là người Phệ ở đời Phệ Hạp, nhưng Hào từ mỗi hào khác nhau nên thánh nhân cũng theo tài với vị mà cân lượng khác nhau. Vị Ngũ với vị Nhị tuy in nhau, nhưng Nhị thời nhu cư nhu mà Ngũ thời nhu cư cương. Nhị thuần nhu mà Ngũ thời pha vào đức cương. Thế là tài Ngũ hơn tài Nhị, nên hào Ngũ phệ được can nhục, Nhị chỉ phệ phu mà thôi. Hào Ngũ thể nhu, hào Tam cũng thể nhu, tài tuy in nhau, nhưng nhu ở hào Tam là nhu bất trung, nhu ở hào Ngũ là nhu đắc trung.
Thế là vị Ngũ hơn vị Tam, nên Ngũ thời đắc hoàng kim mà Tam thời ngộ độc. Trong bốn hào, duy Cửu Tứ tốt nhất. Vì Cửu là tài cương mà Tứ lại vị nhu, so với Ngũ thời hơn bằng phần tài, so với Tam lại hơn bằng phần vị. Tài với vị giúp đỡ cho nhau nên giống gián cách gì cũng cắn được nổi mà trong thì Phệ Hạp duy Cửu Tứ được chữ cát. Chúng ta mới biết làm người một đời, biện việc một đời, được vị mà không tài, vẫn không tạo nổi thời thế, nhưng nếu có tài mà không vị cũng phải đợi có thì cơ, huống gì trừ gián là việc rất khó rất lớn trong đời, bảo không tài lại không vị mà làm được nên rư?
Hào 6 — Thượng Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上九:何校滅耳,凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Hạ giảo diệt nhĩ, hung. Thượng Cửu vượt qua Ngũ lại ở cuối cùng quẻ, vẫn là người vô vị mà lại ở cuối đời Phệ Hạp là một người thụ hình, chính là một tay làm gián rất lớn, cùng hung cực ác, tất phải bị cắt rất đau, tượng như một người cuối cùng ra giữa tòa án mà bị án cực trọng, gia gông vào cổ, xát đứt mất lỗ tai ( Hạ: đội, cũng có nghĩa là gánh; nhĩ: lỗ tai). Hệ tử có nói rằng: Thiện bất tích, bất túc dĩ thành danh, ác bất tích, bất túc dĩ diệt thân; tiểu nhân dĩ tiểu thiện vi vô ích, nhi phất vi dã, dĩ tiểu ác vi vô thương, nhi phất khử dã.
Cố ác tích nhi bất khả yểm, tội đại nhi bất khả giải. Ác chứa chồng mà không thể che bịt được, tội lớn mà không thể dung thứ được. Thế tất phải hung. Tượng viết: Hạ giảo, diệt nhĩ, thông bất minh dã. Vì sao Thượng Cửu phải chịu hình đứt lỗ tai? Đó là tại lỗ tai mình nghe không được thông hiểu vậy ( Thông là nghe tỏ). Nguyên lai, những người sở dĩ phạm vào tội ác, phần nhiều bởi vì nhĩ quan không linh giác, nghe lời nói phải mà chống cự, nghe lời nói quấy thời lại manh tòng, kết quả thời bị hình đến nỗi mất tai là đáng kiếp
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 21 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Hỏa Lôi Phệ Hạp Là Gì?
Thượng quái là Ly, tượng lửa; hạ quái là Chấn, tượng sấm. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 噬嗑: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 20: Phong Địa Quán · Quẻ 22: Sơn Hỏa Bí


Hotline