Quẻ Sơn Hỏa Bí: Văn Sức Và Nền Tảng, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Sơn Hỏa Bí số 22: Cấn trên, Ly dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Sơn Hỏa Bí (賁) là quẻ số 22 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Cấn (núi), hạ quái là Ly (lửa). Bí nói về văn sức, sự trang sức và vẻ sáng đẹp. Các hào dẫn từ những hình thức làm đẹp cụ thể đến bạch bí ở trên cùng, giúp phân biệt vẻ ngoài với điều làm nền cho vẻ ngoài ấy.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Sơn Hỏa Bí Là Gì?

Số thứ tự 22/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Sơn Hỏa Bí — 賁
Thượng quái Cấn — Núi
Hạ quái Ly — Lửa
Hào dương 3
Hào âm 3

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Ly, ba hào sau tạo thượng quái Cấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Sơn Hỏa Bí

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

賁:亨。小利有攸往。

Nguyên Văn Thoán Truyện

賁,亨;柔來而文剛,故亨。分剛上而文柔,故小利有攸往。剛柔交錯,天文也;文明以止,人文也。觀乎天文,以察時變;觀乎人文,以化成天下。

Nguyên Văn Đại Tượng

山下有火,賁;君子以明庶政,无敢折獄。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Cấn trên; Ly dưới Quẻ này là quẻ Sơn Hỏa Bí. Li hạ cũng là Nội Li. Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn sơn, Li hỏa, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Hỏa Bí. TỰ QUÁI Tự quái: Hạp giả hợp dã, vật bất khả dĩ cẩu hợp nhi dĩ, cố thụ chi dĩ Bí. Bí giả sức dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Phệ Hạp tiếp lấy quẻ Bí là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Phệ Hạp, Hạp nghĩa là hợp. Vật không thể xoàng xoàng chạ chạ mà hợp được. Hễ đã hợp, tất phải có văn sức.

Vậy nên sau quẻ Phệ Hạp tiếp lấy quẻ Bí. Bí nghĩa là văn sức. Người nhóm họp tất phải trật tự uy nghi, vật nhóm họp tất phải có thứ tự hàng liệt. Bí ở sau Phệ Hạp là nghĩa ấy. Theo về tượng quẻ, Hỏa ở dưới Sơn, tượng là ở dưới núi có lửa soi dọì lên thời cây cỏ bách vật ở trên núi, tất thảy nhờ tia sáng soi dọi mà hình hiện ra quang thái, ấy là lấy Hỏa mà Bí sức cho Sơn. Vậy nên đặt tên quẻ bằng Bí. SOÁN TỪ Bí hanh, tiểu lị, hữu du vãng.

Đạo lí trong thiên hạ, vô luận vật gì, tất phải trước có bản chất mà sau mới có văn thái giúp vào, nên đời xưa có câu rằng: Vô bản bất lập, vô văn bất hành. ( Bản là thuộc về tinh thần; văn là thuộc về hình thức). Có bản chất rồi mà lại gia vào văn sức, tất nhiên được hanh thông. Tuy nhiên, theo về tên quẻ thời chỉ Bí mà thôi. Ở trước khi chưa Bí nếu không được cội gốc cho dày dặn thời cũng không đại hữu vi được. Dầu có Bí mà hanh, cũng tiểu lị hữu du vãng mà thời.

Nghĩa là, có làm việc gì mà chỉ nhờ ở văn sức thời ở thành tựu cũng chỉ bé nhỏ mà thôi. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Bí hanh, nhu lai nhi văn cương, cố hanh. Phân cương thượng nhi văn nhu, cố tiểu lị hữu du vãng. Cương, nhu giao thác, thiên văn dã, văn minh dĩ chỉ, nhân văn dã. Quan hồ thiên văn dĩ sát thì biến, quan hồ nhân văn, dĩ hóa thành thiên hạ. Soán viết: Bí hanh, nhu lai nhi văn cương, cố hanh. Phân cương thượng nhi văn nhu, cố tiểu lị hữu du vãng. Đây là lấy Quái biến thích Quái từ.

Nguyên hào nhu ở quẻ Khôn, lại làm văn sức cho quẻ Càn thành ra Li là nhu lại mà làm văn cho cương vậy nên được hanh. Lại vì thể trên, gốc vẫn là Khôn, chia hào dương của Càn để sức cho Khôn thành ra Cấn, ấy là dương cương lên làm văn cho nhu nên tiểu lị hữu du vãng. Bởi vì bản chất là nhu, nhờ cương văn vào mới được lị hữu du vãng, nhưng vì nhu là chủ, cương là khách nên tiểu lị mà thôi. Cương, nhu giao thác, thiên văn dã. Theo Quái biến như trên đây nói, thế là âm với dương, cương với nhu, giao trộn với nhau mà thành ra thiên văn vậy.

( Thác: trộn; thiên văn: văn lí của trời). Tỉ như nhật, nguyệt giao thác với nhau mà thành ra trú dạ; hàn thử giao thác với nhau mà thành ra tứ thì, v.v. ấy là cương, nhu giao thác, thiên văn dã. Văn minh dĩ chỉ, nhân văn dã. Lại theo về tượng hai quẻ, nội Li là minh, ngoại Cấn là chỉ. Li minh thời hiện ra cách văn minh, Cấn chỉ thời có một cách hạn chế. Văn minh mà lại có hạn chế, ấy là văn lí của người vậy. PHỤ CHÚ: Bốn chữ văn minh dĩ chỉ rất có ý vị, Văn minh vẫn có điều hay, nhưng nếu không hạn chế thời thường đển nỗi văn diệt kì chất, nên văn minh mà phải có hạn chế, chính là văn minh dĩ chỉ.

Khổng Tử có nói rằng: Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử. 。. nghĩa là: Chất phác nhiều hơn văn hoa thời thành người quê mùa; văn hoa nhiều hơn chất thời thành ra bọn viết sử; chỉ duy chất vừa xứng với văn, văn vừa xứng với chất, lấy chất làm thể, lấy văn làm dụng, văn chất trộn trạo với nhau, vậy mới là quân tử. Câu văn chất bân bân với câu văn minh dĩ chỉ đắp đổi xem với nhau thời càng rõ lắm. Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến, quan hồ nhân văn, dĩ hóa thành thiên hạ.

Bây giờ lại nói về đạo Bí của thánh nhân, xem ở nơi thiên văn mà xét được thì tự biến cải. Tỉ như xem tuế tinh mà đặt ra mỗi năm mười hai tháng, xem thái dương mà đặt ra lịch ngày, xem thái âm mà đặt ra lịch tháng, v.v. Lại xem ở nơi nhân văn mà giáo hóa thành tựu cho thiên hạ. Tỉ như nhân trật tự ở triều đình mà đặt ra lễ chế, nhân tập tục ở xã hội mà đặt ra chương trình, v.v. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Sơn hạ hữu hỏa, Bí. Quân tử dĩ minh thứ chính, vô cảm chiết ngục.

Tượng Truyện đây là thủ nghĩa bằng thể hai quẻ: Cấn thượng là sơn, Li hạ là hỏa, ở phía dưới núi có lửa dọi lên, lửa làm sáng cho núi nên gọi bằng Bí. Vì lửa ở dưới núi, tuy có minh mà minh không được xa lớn nên quân tử dùng minh đó chỉ vừa tu minh được những chính sự nhỏ mà thôi ( Thứ chính: mỗi việc chính trị nhỏ). Đến như việc chiết ngục là quan hệ đến sinh mệnh của nhân dân, nếu chi dùng tiểu minh, hoặc dùng bằng cách bí sức thời nguy hiểm cho nhân dân lắm.

Vậy nên, gặp việc chiết ngục thời không dám quả cảm mà xử đoán. ( Cảm: quả quyết tự dũng; chiết ngục: phán đoán việc hình ngục; chữ vô này nghĩa là chớ; vô cảm: chớ dám quả quyết)

Sáu Hào Của Quẻ Sơn Hỏa Bí

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初九:賁其趾,舍車而徒。

Phan Bội Châu chú giải:

Bí kì chỉ, xả xa nhi đồ. Sơ Cửu dương cương ở vào thể Li, lại ở dưới hết quẻ, tượng là một người có đức minh mà tại hạ. Cách Bí của người ấy chỉ tu sức phẩm hạnh của mình, cốt cho hoàn toàn bổn phận người ở dưới, tượng là bí kì chỉ ( Bí: trau dồi; chỉ: ngón chân cái là giống ở dưới hết thân người; bí kì chỉ: trau dồi phần tại hạ của mình). Bởi vì quân tử an phận vô cầu như thế nên không tham bã vinh hoa của người, dầu ai đem phú quý cho mình mặc lòng mà mình chỉ an bằng cách bần tiện.

Tượng là bỏ cách sung sướng bằng cách đi xe mà an cách khó nhọc bằng đi bộ ( Xa: đi xe, tỉ dụ bằng cách phú quý; đồ: đi chân, tỉ dụ bằng cách bần tiện). PHỤ CHÚ: Xa vẫn là vinh, đồ vẫn là nhục, nhưng vinh nhục của quân tử khác với vinh nhục của thế tục. Quân tử lấy đạo nghĩa làm vinh, lấy bất đạo nghĩa làm nhục. Nếu đi chân mà hợp với đạo nghĩa thời còn vinh gì hơn. Cao sĩ ở đời Chiến Quốc là Ông Vương Chúc có câu rằng: Hoãn bộ dĩ đương xa, nghĩa là: Đi chân thủng thẳng để địch với ngồi xe là đúng với nghĩa ở hào này.

Tượng viết: Xả xa nhi đồ, nghĩa phất thừa dã. Theo mắt thế tục thời xa là sang, đồ là hèn, cớ sao bỏ xe mà đi chân. Bởi vì theo ở đạo nghĩa thời nghĩa Sơ Cửu không nên cưỡi xe vậy. Đó là đạo Bí của quân tử tại hạ. ( Thừa: cưỡi). PHỤ CHÚ: Đại xa dĩ tải ở quẻ Đại Hữu với xả xa nhi đồ ở quẻ Bí, chính là thì nghĩa của quân tử. Ở về thì Bí Sơ thời xả xa nhi đồ là trọng về phần tiết nghĩa; ở về thời Đại Hữu Nhị thời đại xa dĩ tải lại trọng về phần công nghiệp; quân tử dĩ tùy ở hợp đạo mà thôi, chứ không phải ghét phú quý mà khinh bần tiện nên nói rằng: Nghĩa phất thừa dã

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:賁其須。

Phan Bội Châu chú giải:

Bí kì tu. Quẻ này vì có thể Li minh mới thành ra Bí mà Lục Nhị lại làm chủ quẻ Li. Bởi vì có hào Nhị mới thành được quẻ Li, vậy nên ở thời đại Bí Lục Nhị thành ra một người trọng yếu. Thánh nhân do đó chỉ vẽ đạo Bí cho Lục Nhị rằng: Hễ vật lí giống gì tốt, giống gì xấu, gốc ở nơi bản chất của vật ấy, nếu có Bí sức cũng chỉ tùy ở nơi bản chất gia vào văn mà thôi. Tỉ như chất gỗ vẫn tốt, gia vào chạm trổ sơn tô thời thành ra đồ đẹp; nếu chất gỗ đã hủ xốp thời chạm trổ sơn tô mà làm gì.

Xem thế thời biết rằng: Hễ làm Bí sức cho người hoặc vật, tất phải nhờ bản chất nó tốt sẵn mà mình gia thêm văn sức vào, không thể nào chất xấu mà biến ra tốt được. Tượng như bộ râu vẫn làm tốt cho cằm, nhưng trước tất có bộ cằm rộng nở phương phi thời gia bộ râu vào mới thêm đẹp. Nếu bộ cằm sứt móm thời dầu có sức râu vào càng thêm khó coi. Cách bí sức phải tùy ở bản chất là thế, nên nói rằng: Bí kì tu ( Tu: râu ở dưới cằm; văn sức bộ râu cho cằm là bí kì tu), nhưng sở dĩ đẹp gốc là nhờ cằm, nếu không cằm thời râu biết bí vào đâu.

Hào từ này chỉ dạy cách Bí cho Nhị, vì Lục Nhị là âm nhu trung chính, tượng như bộ cằm đã tốt, duy thêm râu vào là thêm đẹp. Tượng viết: Bí kì tu, dữ thượng hưng dã. Tượng Truyện này lại bổ túc ý nghĩa Hào từ. Nhị là âm nhu, phụ vào Cửu Tam mà hành động, tượng như Tam là cằm mà Nhị là râu. Nhị có động tác gì cũng kèm vào hào trên mình mà động tác vậy

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:賁如濡如,永貞吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Bí như, nhu như, vĩnh trinh, cát. Hào Cửu vị Tam là dương cương đắc chính, lại ở cuối cùng Nội Li là văn minh chi cực, chính là một người có tài học du bí sức cho người. Vì trên, dưới có Nhị, Tứ hai âm, hai âm đó nhờ Tam bí sức cho mà Tam cũng sẵn lòng bí sức cho nó. Vì cương, nhu tương bí càng lâu càng nhuần nhã vẻ vang. Tượng như lấy thuốc sơn mà dầm tưới vào các thức vật ngày càng màu mỡ mịn màng ( Nhu: dầm tưới). Tuy nhiên, Tam với Tứ vẫn không phải chính ứng, vì gần gũi với nhau mà bí sức cho nhau, lấy nhất dương mà bí cho nhị âm e có lúc mê vào tư tình mà sai đường chính đạo chăng?

Nên thánh nhân lại răn cho rằng: Bí với nhị âm tất phải giữ clúnh đạo cho lâu dài, mới được tốt lành. PHỤ CHÚ: Thâm ý Hào từ này cốt ở hai chữ: vĩnh trinh. Bởi lẽ trong thiên hạ phấn sức thời không bao giờ được lâu dài, nước sơn lâu ngày tất cũng phải nhả, sắc thuốc lâu ngày tất cũng phải phai. Nếu chỉ một mực văn sức thôi thời dầu gia đình nào, xã hội nào, cũng không gì tốt, nên thánh nhân bảo cho phải vĩnh trinh, nghĩa là bí sức mà phải lâu dài giữ đạo chính mới được cát ( Trinh nghĩa là chất tốt).

Tượng viết: Vĩnh trinh chi cát, chung mạc chi lăng dã. Bí sức mà lại vĩnh trinh thời được cát, kết quả không ai lăng vũ được mình vậy

Hào 4 — Lục Tứ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六四:賁如皤如,白馬翰如,匪寇婚媾。

Phan Bội Châu chú giải:

Bí như, ba như, bạch mã hàn như, phỉ khấu hôn cấu. Lục Tứ âm nhu, hạ ứng với hào dương cương là Sơ Cửu: vẫn hai bên thảy đắc chính nên sẵn lòng bí sức cho nhau, nhưng vì ở khoảng giữa có Cửu Tam, Tứ với Sơ bị Cửu Tam gián cách nên hai bên không được bí sức cho nhau mà chỉ thấy trắng túa ( Ba: sắc trắng lột). Vì không bí sức được nên cứ ba như. Tuy nhiên, Tứ với Sơ là chính ứng, dầu bị hoàn cảnh trở cách mặc lòng mà ý chí của Tứ càng gấp muốn theo Sơ, tượng như cưỡi ngựa trắng mà chạy như bay ( Hàn: bay).

Vì không được bí nên nói rằng bạch mã; vì theo Sơ quá gấp nên nói rằng hàn như. Nhưng Cửu Tam là cương chính, không phải hạng người khấu thù. Lúc đầu tuy có cách trở, nhưng Tam không bao giờ làm hại cảm tình của Sơ với Tứ, chẳng bao lâu thấy Cửu Tam cũng vô sự mà Sơ với Tứ làm thân quyến với nhau, nên nói rằng: Phỉ khấu hôn cấu ( Hôn cấu: kết hôn với nhau làm vợ chồng). Tượng viết: Lục Tứ đang vị, nghi dã, phỉ khấu hôn cấu, chung vô vưu dã. Lục Tứ vì địa vị sở xử bị gián cách vì Cửu Tam, có tình thế phải nghi đó vậy.

Tam tuy gián cách, nhưng Sơ với Tứ vẫn chính ứng, lí trực khí tráng, Tam có dám làm khấu đâu, kết quả Sơ với Tứ không điểu gì oán hận mà Tứ hôn cấu đó vậy ( Vưu: oán hận)

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:賁於丘園,束帛戔戔,吝,終吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Bí vu khưu viên, thúc bạch tiên tiên, lẫn, chung cát. Lục Ngũ có đức tính nhu trung, lại làm chủ ở thời đại Bí, vì có đức đắc trung nên trau chuốt bằng việc gốc, chăm chỉ về cách thực thà, rất đúng với đạo Bí, tượng như bí thức mà chỉ ở ruộng vườn. Vả lại tính âm nhu thường hay tằn tiện mà không ham khoa trương, dầu có bí sức chút đỉnh cũng không gì văn hoa, tượng như có đụng đến bó lụa cũng chỉ chỉ nhỏ nhen ít ỏi, thiệt là một hạng người quá chừng tiết kiệm; ở vào thời đại Bí mà có hơi keo sẻn, thường bị mắt tục chê cười, tuy như hình đáng xấu thẹn nhưng mà người đương trục mạt mà mình thời đôn bản, người đương xa hoa mà mình thời kiệm phác, so về đạo lí, cũng không phải quá đáng, mà kể về lợi hại thời cuối cùng chắc cũng được tốt lành.

PHỤ CHÚ: Tên quẻ là Bí, nhưng trong nghĩa sáu hào thời không thấy quý trọng bằng cách văn sức, đến Lục Ngũ lại lấy chất phác, kiệm ước làm hay, đó là thâm ý của thánh nhân cửu thì. Lễ Kí có câu: Tục xa, tắc thị chi dĩ kiệm, nghĩa là: Thì tục đã đến lúc xa hoa thời phải bảo cho nó lấy cách kiệm, người ở thời đại Bí không sợ người ta không biết văn sức mà chỉ sợ người ta văn sức quá tay, e cuối cùng thành ra dâm thanh, tệ tục, nên Hào từ Lục Ngũ nói rằng: Bí vu khưu viên, thúc bạch tiên tiên.

Bởi vì hào Ngũ đã gần đến hồi Bí chi cực, thánh nhân muổn cứu thì kiển tục nên phải quy kết bằng cách kiệm phác. Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, hữu hỉ dã. Tượng Truyện sở dĩ có chữ hữu hỉ là vì hào Ngũ làm chủ tể cho đời Bí, nhất ngôn nhất động, thảy nhân chúng đều trông vào. Bây giờ bản thân Ngũ bỏ xa hoa mà sùng kiệm phác thời công dụng chuyển di phong hóa làm lợi ích cho đời rất lớn, sở dĩ Tượng Truyện nói rằng: Lục Ngũ chi cát, hữu hỉ dã, nghĩa là: Cái tốt của Lục Ngũ chính là hạnh phúc cho đời Bí vậy

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:白賁,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Bạch bí, vô cựu. Thượng Cửu: Ở cuối cùng quẻ Bí, theo về thì nghĩa là bí sức đã cùng cực rồi. Tòng lai, vật cực tắc phản. Bí cực rồi tất quay lại bản chất. Bản chất là nguyên tố. Bây giờ trừ hết nhất thiết phấn sức, y nhiên như chất tố lúc xưa, ấy là bạch bí. Bạch bí nghĩa là lấy nguyên bạch làm bí sức, thiệt là một cách phản bản quy chân mà lại hợp với lẽ Dịch cùng tắc biến nên không tội lỗi gì. Tượng viết: Bạch bí vô cựu, thượng đắc chí dã. Thượng Cửu mà được bạch bí vô cựu, chính là xử vào thì văn cực sinh chân mà mình lại lấy bạch bí làm thích, ý chí mình rất tự đắc vậy.

PHỤ CHÚ: Bí nghĩa là văn sức; bạch nghĩa là sắc trắng; bạch mà nói rằng bí chẳng là trái nghĩa lí lắm hay sao? Nhưng mà vẫn rất có ý nghĩa. Bởi vì năm sắc nguyên chỉ sắc trắng là bản chất thiên nhiên, đầu có sắc trắng mà sau mới gia vào thái sắc nên có câu rằng: Bạch thụ thái. Bây giờ lấy bạch làm bí, chính là một cách Bí bằng tự nhiên nên Tạp quái truyện lại có câu rằng: Bí vô sắc dã

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Sơn Hỏa Bí là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Sơn Hỏa Bí Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 22 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Sơn Hỏa Bí Là Gì?

Thượng quái là Cấn, tượng núi; hạ quái là Ly, tượng lửa. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 賁: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Sơn Hỏa Bí. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 21: Hỏa Lôi Phệ Hạp · Quẻ 23: Sơn Địa Bác

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline