Quẻ Sơn Địa Bác: Sự Bóc Mòn Và Giới Hạn, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Sơn Địa Bác số 23: Cấn trên, Khôn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Sơn Địa Bác (剝) là quẻ số 23 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Cấn (núi), hạ quái là Khôn (đất). Bác biểu thị sự bóc mòn. Hình tượng chiếc giường bị hủy hoại lần lượt qua các hào làm rõ quá trình xâm lấn; không nên chỉ đọc tên quẻ mà bỏ qua sự khác biệt giữa từng hào.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Sơn Địa Bác Là Gì?

Số thứ tự 23/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Sơn Địa Bác — 剝
Thượng quái Cấn — Núi
Hạ quái Khôn — Đất
Hào dương 1
Hào âm 5

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Khôn, ba hào sau tạo thượng quái Cấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Sơn Địa Bác

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

剝:不利有攸往。

Nguyên Văn Thoán Truyện

剝,剝也,柔變剛也。不利有攸往,小人長也。順而止之,觀象也。君子尚消息盈虛,天行也。

Nguyên Văn Đại Tượng

山附地上,剝;上以厚下,安宅。

Ghi chú văn bản: Quái từ Bác được chấm câu thành “不利有攸往” (không lợi cho việc tiến đi), đối chiếu lời Thoán và bản Phan Bội Châu; không ngắt “不利。有攸往” vì làm tách cụm nghĩa.

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Cấn trên; Khôn dưới Quẻ này là quẻ Sơn Địa Bác. Khôn hạ cũng là Nội Khôn. Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn là Sơn, Khôn là Địa, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Địa Bác. TỰ QUÁI Tự quái: Bí giả sức dã, chí sức nhiên hậu hanh tắc tận hĩ, cố thụ chi dĩ Bác, Bác giả bác dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Bí tiếp lấy quẻ Bác là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Bí, Bí nghĩa là trau dồi. Trau dồi đã đạt ở cực điểm tất nhiên phải mòn hết. Vậy nên sau quẻ Bí tiếp lấy quẻ Bác.

Bác nghĩa là mòn hết. Bí cực tắc bác, chính là lẽ tự nhiên. Theo về tượng quẻ, năm hào âm, âm trưởng dần mà đã đến lúc thịnh cực. Một hào dương ở trên, chốc nữa là tiêu bác hết, nên đặt tên quẻ bằng Bác. SOÁN TỪ Bác, bất lị, hữu du vãng. Quẻ Bác là quẻ âm trưởng cực, dương tiêu cực, âm là tiểu nhân, dương là quân tử; ở thời đại ấy, tiểu nhân đắc chí hoành hành, quân tử không chốn nào mà hành động được nữa, chi nên nấp nép chờ thì, may khỏi bị tiểu nhân hãm hại nên nói rằng: Bất lợi hữu du vãng.

PHỤ CHÚ: Đương hồi âm thịnh, dương suy, tiểu nhân tráng, quân tử bệnh. Soán từ nói rằng: Bất lợi hữu du vãng. Thế thời quân tử ở thì ấy không việc làm hay sao? Không phải. Theo ý Kinh Dịch, cơ suy thường nấp ở lúc thịnh, cơ thịnh thường nấp ở lúc suy. Bác nghĩa là rụng, trái cây rụng xuống đất, tuy là bác lạc nhưng mà hạt cây chẳng bao lâu ngấm ngầm mọc lên. Quân tử ở thời đại ấy, không phải không việc làm, nhưng làm bằng cách tinh thần nên âm thầm chớ nên lòe loẹt, nên kín đáo chớ nên nhố nhăng.

Sách Lão Tử có câu: Đại trí nhược ngu, đại dũng nhược khiếp, đại xảo nhược chuyết, đại trực nhược khúc. nghĩa là: Có óc khôn rất lớn mà làm như hình người ngu, có sức mạnh rất lớn mà làm như hình người nhác, có mưu khéo rất lớn mà làm như hình người vụng, có đức thẳng rất lớn mà làm như hình người cong. Lão Tử lại có câu: Tri kì hùng, thủ kì thư, tri kì bạch, thủ kì hắc. nghĩa là: Biết cho thấu cách trống mà giữ lấy cách mái, biết cho thấu cách trắng mà giữ lấy cách đen.

Những câu ấy chính là thủ đoạn tác dụng của quân tử ở đời Bác vậy. Ở thì năm âm tịnh tấn, một dương thế cô mà năm âm xu sức đánh đổ một dương thời quân tử nguy hiểm biết dường nào! Nếu lúc ấy mà còn hữu du vãng thời không phải là người biết học Dịch. Soán từ rằng: Bất lợi hữu du vãng là đau đớn cho quân tử đó vậy. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Bác, bác dã, nhu biến cương dã. Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Thuận nhi chỉ chi, quan tượng dã, quân tử thượng tiêu tức dinh hư, thiên hành dã.

Soán viết: Bác, bác dã, nhu biến cương dã. Nguyên nhất âm sinh từ quẻ Cấu [18] là quẻ tháng Năm, bắt đầu nhất dương biến làm nhất âm; nhị dương biến thời thành quẻ Độn là quẻ tháng Sáu; tam dương biến thời thành quẻ Bĩ là quẻ tháng Bảy; tứ dương biến thời thành quẻ Quán là quẻ tháng Tám; ngũ dương biến thời thành quẻ Bác là quẻ tháng Chín; chốc nữa biến thêm một nét thời thành quẻ Bát Thuần Khôn là quẻ Thuần âm vô dương. Ghê gớm thay nên Soán Truyện nói rằng: Bác, bác nghĩa là tiêu hết, cũng có nghĩa là rụng hết, dương tiêu rụng hết là vì âm nhu quá mạnh, khiến cho biến đổi hết dương cương vậy.

Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Đương lúc ấy bao nhiêu địa vị của quân tử, tất thảy bị tiểu nhân chiếm sạch ráo nên Soán Truyện lại có câu: Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Quân tử xử thời đại ấy chỉ nên tiềm tàng nấp lén, không hành động được việc gì. Bởi vì tiểu nhân đạo trưởng thời quân tử phải tiêu, nên bất lị hữu du vãng. PHỤ CHÚ: Quẻ Quải là quẻ ngũ dương nhất âm thời Soán Truyện nói rằng: Cương quyết nhu dã. Quẻ Bác là quẻ ngũ âm nhất dương thời Soán Truyện nói rằng: Nhu biến cương dã.

Chữ quyết với chữ biến, hai chữ khác nhau; một phương diện thời miêu tả tình trạng tiểu nhân hại quân tử mà nói chữ biến, Một phương diện thời miêu tả thủ đoạn quân tử trừ tiểu nhân mà nói chữ quyết. Bởi vì quân tử thường hay mắc bệnh nhân từ do dự. Nếu không quyết thời không trừ nổi tiểu nhân, tất phải dùng cách nhất đao lưỡng đoạn, nên nói chữ quyết. Chỉ còn nhất âm mà phải dùng chữ quyết, mới biết tiểu nhân là một giống khó trừ nên lấy chữ quyết dạy quân tử, chứ như tiểu nhân thời thường dùng âm mưu quỷ kế khiến cho quân tử ngày mòn tháng rụng mà thường đến nỗi quân tử phải biến cách theo nó, tượng như lửa hao mòn dần mà dầu không biết, tằm ăn hết lá mà lá không hay.

Đến khi quân tử hết sạch rồi mà toàn xã hội chỉ thấy tiểu nhân, chính là thủ đoạn tiểu nhân hại quân tử. Thánh nhân ghê gớm cho thủ đoạn ấy, nên nói chữ biến. Chỉ hai chữ khác nhau mà ý nghĩa rất vi diệu, chúng ta há nên đọc qua mà không nghĩ rư? Thuận nhi chỉ chi, quan tượng dã, quân tử thượng tiêu tức dinh hư, thiên hành dã. Quân tử xử vào thời đại Bác thời nên thế nào? Tất phải xem ở tượng quẻ Bác. Quẻ Bác nội Khôn có tượng là thuận, Ngoại Cấn có tượng là chỉ, quân tử thuận theo đạo trời nên chỉ mà chỉ.

Chỉ xem ở tượng quẻ Bác vừa đúng rồi, nhưng quân tử sở dĩ biết thuận nhi chỉ, há phải chờ vận Bác tới nơi mới biết được đâu? Ư trước khi chưa tới Bác mà quân tử đã để lòng nghiên cứu đến đạo trời, biết vận trời lưu hành âm tiêu, tất có hồi tức, dương dinh tất có lúc hư, vận trời đi thế vậy. Vì quân tử đã biết trước nên sùng thượng lẽ ấy. Nghĩa chữ thượng có ý như tín ngưỡng. Vì tín ngưỡng đạo trời nên tùy thì xử thế, khả chỉ tắc chỉ. Dầu thì vận Bác tới mà quân tử có bao giờ sụp vào tay tiểu nhân đâu!

Tiêu nghĩa là hao mòn; tức nghĩa là đẻ nở; dinh nghĩa là đầy tràn; hư nghĩa là trống không. Bốn chữ ấy chỉ chuyên nói về phía dương, phía quân tử. Chữ tiêu, chữ hư là nói từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn là dương tiêu mà đến hư. Chữ tức, chữ dinh là nói từ quẻ Phục đến quẻ Càn là dương tức mà đến dinh. Tượng viết: Sơn phụ ư địa, Bác. Quân tử dĩ hậu hạ, an trạch. Tượng Truyện không theo nghĩa quẻ mà chỉ theo tượng quẻ, phát minh ra một nghĩa khác mà nói rằng: Ngoại thể Cấn là Sơn, nội thể Khôn là Địa.

Núi y phụ với đất mà thành ra tượng quẻ Bác. Tượng là muốn làm cao, trước phải nương dựa vào thấp; núi vẫn cao, nhưng nhờ có đất dày, đất ở dưới, nếu không dày thời núi phải đổ, người ở bậc trên dân, xem vào tượng ấy, biết nền móng ở dưới không dày vững thời địa vị mình không an, nên phải vun đắp cho người ở dưới mình, lo cho nhân dân được hậu sinh lợi dụng, lạc nghiệp an cư. Trạch là chốn ở của dân, dân cư được an ổn thái bình, chính là đạo duy trì ở thì Bác vậy.

Thượng là thủ tượng vào Sơn; hạ là thủ tượng vào Địa. Đất dày thời núi càng vững, dưới dày thời trên càng bền

Sáu Hào Của Quẻ Sơn Địa Bác

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初六:剝牀以足,蔑貞凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Bác sàng dĩ túc, miệt trinh, hung. Sơ Lục ở đầu hết thời đại Bác, âm vừa bắt đầu bác dương, chính là tiểu nhân bắt đầu bác quân tử. Bác từ dưới bác lên. Sơ chính xử vào địa vị ấy, tượng như phá hoại bộ giường mà Sơ là người bắt đầu cắt chân giường. Sàng là cái giường nằm, để cho người an, thí dụ bằng địa vị quân tử. Túc là chân giường là chỉ vào địa vị ở dưới. Bác quân tử từ dưới bác lên, ấy là bác sàng dĩ túc. Nếu như thế mà bác lần lên mãi tất đến nỗi diệt mất chính đạo.

Miệt: tiêu diệt; trinh: đạo chính của quân tử. Thế đạo đến lúc đó chắc phải hung. Tượng viết: Bác sàng dĩ túc, dĩ diệt hạ dã. Bác sàng dĩ túc là âm diệt dương, tà diệt chính mà diệt từ dưới thấp diệt lên vậy. Chữ hạ là thay chữ túc

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:剝牀以辨,蔑貞凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Bác sàng dĩ biện, miệt trinh, hung. Bác tới Lục Nhị là âm bác dương đã tiến lên lần lần. Nhị vẫn một bầy với Sơ, đồng ác với nhau mà hại quân tử, tượng như hai anh chung sức với nhau phá hoại bộ giường. Sơ mới bác ở chân, đến Nhị đã bác tới then giường ( Biện: then giường). Tuy chưa bác đến mặt giường mà đã lên quá chân giường, chính là địa vị Lục Nhị. Như thế mà bác lần lần mãi tới diệt mất chính đạo phải hung. Hào từ Lục Nhị cũng in như Sơ Lục, duy địa vị khác nhau chút đỉnh nên chữ túc với chữ biện khác nhau mà phần hung thuộc về quân tử, lại thảm hại hơn thời đại hào Sơ vậy.

Tượng viết: Bác sàng dĩ biện, vị hữu dữ dã. Bác sàng mà đã bác tới biện thời quân tử đã nguy lắm rồi. Nhưng sở dĩ nguy đến thế là vì phe tiểu nhân quá đông mà quân tử thời chưa có phe mình. ( Dữ: đảng dữ). Nếu quân tử ở thì Bác mà biết đoàn kết lấy đồ đảng mình, còn có thể chống lại với tiểu nhân được, nên Tượng Truyện nói rằng: vị hữu dữ là lời thương tiếc cho quân tử vậy

Hào 3 — Lục Tam

Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六三:剝之,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Bác chi vô cựu. Quẻ Bác năm âm rặt là bè tiểu nhân: Lục Tam ở trên hết Nội Quái, dưới có Sơ Lục, Lục Nhị, trên có Lục Tứ, rặt là bè với Tam, nhưng Tam lại tách riêng một mình, bỏ bè mình mà thượng ứng với Thượng Cửu. Thượng Cửu là quân tử ở thì Bác, Lục Tam ứng với Thượng Cửu chính là tiểu nhân mà chịu theo quân tử. Thánh nhân nhân tượng ấy mà tô tán cho Lục Tam rằng: Tâm sự được như Tam chính là một người không tội lỗi trong thì Bác. Ý như nói rằng: Trên dưới bốn hào rặt là tội lỗi, duy hào Tam mới không tội lỗi, chính là ý nghĩa Dịch vị quân tử mưu đó vậy.

Tượng viết: Bác chi vô cựu, thất thượng hạ dã. Lục Tam ở chung một hoàn cảnh với bốn hào âm mà Tam chịu li quần độc vãng, lên ứng với Thượng Cửu nên trên dưới Tam thảy mất lòng với Tam. Tam chịu mất đảng tiểu nhân mà làm bạn với quân tử. Như thế mới là Bác chi vô cựu

Hào 4 — Lục Tứ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六四:剝牀以膚,凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Bác sàng dĩ phu, hung. Âm tiến đến Lục Tứ, xử địa vị Thượng Quái, thế là quân tử bị bác không chốn nào trốn tránh được nữa, tượng như giường nằm bị phá hoại, chẳng những phá hoại hết giường mà lại xẻo lây đến thịt người nằm trên giường. ( Phu: thịt mỏng trong da). Bác sàng mà đã đến phu là tiểu nhân vào đã quá mám, quân tử bị hại đã quá đau nên không cần nói miệt trinh mà nói ngay chữ hung. Tượng viết: Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã. Quẻ này chỉ một hào dương ở Thượng Cửu là quân tử, Bác đã đến Tứ, chốc phút nữa vượt qua Ngũ đánh đổ cả Thượng Cửu là quân tử xong đời, nên nói rằng: Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã nghĩa là: Tai họa đã bức thiết gần mình rồi đó

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:貫魚,以宮人寵,无不利。

Phan Bội Châu chú giải:

Quán ngư, dĩ cung nhân sủng, vô bất lị. Lục Ngũ ở trên bốn hào âm, lại ở Ngũ là vị chí tôn, chính là làm chủ cho bầy âm, tượng là một người đại thủ lĩnh trong bầy tiểu nhân. Thánh nhân hệ Hào từ đến đó, nguy cho quân tử mà còn hi vọng ở nơi tiểu nhân, muốn mở đường lối cho tiểu nhân khử tà quy chính nên bỏ chữ Bác không nói mà đặt riêng ra nghĩa khác nói rằng: Ngũ ơi! Ngũ đã làm chủ cho bầy âm, thế lực vẫn mạnh, đồ đảng vẫn đông, nhưng Ngũ lại thân cận với Thượng Cửu là quân tử ở đời Bác.

Nếu Ngũ biết thể thiện tâm phù thế đạo, Ngũ thống suất cả bầy âm mà lên thuận tòng quân tử, tượng như đem cả xâu cá. ( Quán: xâu; ngư: cá là giống thuộc về loài âm, tượng như bầy tiểu nhân). Lại thí dụ như: Bà Hoàng hậu dắt cả tụi cung nhân mà đươc vua yêu sủng ( Cung nhân là chúng thiếp trong cung vua; sủng là thân yêu). Quán ngư dĩ cung nhân sủng chỉ là nói thí dụ, chính ý là nói dắt bầy tiểu nhân lên theo quân tử. Tiểu nhân có thế lực như Lục Ngũ mà lại biết thiên thiện tòng chính như thế, tất nhiên thiện loại nhờ Ngũ mà được bảo toàn.

Bác vẫn nhờ Ngũ mà có cơ chuyển Bác, chắc không việc gì không lợi tiện. Tượng viết: Dĩ cung nhân sủng, chung vô vưu dã. Lục Ngũ là một hào tôn trong quần âm. Nếu biết đem dắt cả bầy âm mà thuận thính với Thượng Cửu, tượng như bà hậu phi dắt cung nhân lên hầu vua là một việc đáng hân hạnh cho thế đạo không biết chừng nào. Thánh nhân vì thế mà tán cho rằng: tiểu nhân bác quân tử vẫn là tội lỗi. Trái lại, tiểu nhân mà biết thuận thừa quân tử thời kết quả không tội lỗi gì.

Vưu: tội lỗi, cũng có nghĩa là oán trách. PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Hào từ này nên biết khổ tâm của thánh nhân vì thế đạo! Quẻ Bác này dương tiêu gần hết, âm trưởng gần cực. Theo về thiên đạo thời lúc ấy quyền tại âm, theo về nhân sự thời lúc ấy quyền tại tiểu nhân. Tuy nhiên, ở thiên đạo vẫn không một ngày nào là không dương mà thế đạo cũng không một ngày nào là không quân tử, còn dương thời mới thành được quốc gia xã hội. Vậy nên, đến Lục Ngũ thánh nhân bỏ nghĩa âm bác dương mà đặt ra nghĩa âm thừa dương, ở trên Quái từ thời nói rằng: Bất lợi hữu du vãng là hết sức lo cho quân tử.

Ở Lục Ngũ lại nói rằng vô bất lị là hết sức khuyến miễn cho tiểu nhân. Ở trên mặt chữ tuy là khuyến miễn cho tiểu nhân mà trong thâm ý chỉ cốt phù trì cho quân tử, một tấm lòng ủy khúc vị quân tử mưu đến như thế

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:碩果不食,君子德車(一作得輿),小人剝廬。

Phan Bội Châu chú giải:

Thạc quả bất thực, quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư. Thượng Cửu là nhất dương ở quẻ Bác, dương bị bác đã gần hết, chỉ còn một hào này. Vận hội dương tuy cực suy mà hạt mộng dương còn tươi tốt, thánh nhân mới thủ tượng bằng trái cây. Thí dụ như cả cây trái rụng đã gần hết, duy còn một trái lớn, hãy y nguy ở đầu cây ( Quả: trái; thạc quả: trái rất lớn; thực, hái xuống ăn). Trái lớn mà không hái xuống ăn thời nòi giống trái vẫn còn mà lại có ngày gieo mộng mọc cây, nên thánh nhân mừng mà nói: Thạc quả bất thực.

Là bảo dương không bao giờ hết mà cũng là đạo quân tử không bao giờ tiêu hết. Theo về thể quẻ, Bác vẫn là quẻ tiểu nhân. Theo về tượng hào thời Thượng Cửu là hào quân tử, nên thánh nhân lại thiết ra hai nghĩa, phân biệt quân tử, tiểu nhân làm hai đường mà nói rằng: Hễ quân tử ở về cuối cùng Bác là dương hồi âm thịnh cực thời có thể suy, đời loạn cực thời có cơ trị, nên nhân tình tất thảy trông mong vào quân tử. Quân tử tới đâu chắc được chúng hoan nghinh. (Chữ dư đây khác chữ dư mọi nơi: Dư là quần chúng; đắc dư nghĩa là được lòng quần chúng).

Trên đây là nói về phần quân tử, bây giờ lại nói về phần tiểu nhân. Theo về thể quẻ, nhất dương ở trên ngũ âm, tượng như một dương là nhà che trùm năm âm. Kìa bọn tiểu nhân ở đời Bác, nó lại bác cho đến nơi, nó đánh đổ cả nhất dương ở trên, té ra tự mình nó trúc đổ nhà nó, nó có biết nhất dương ở trên chính là nhà của nó đâu, nhất dương trúc, chính là nhà nó trúc ( Lư: cái nhà để che mình, nhất dương che ngũ âm nên gọi bằng Lư; bác lư: trúc đổ cái nhà mình ở).

Câu tiểu nhân bác lư không theo như nguyên nghĩa quẻ Bác, chỉ lấy bản thân Thượng Cửu mà đặt riêng một nghĩa. Theo nghĩa quẻ thời phần xấu thuộc về quân tử, chính là lúc quân tử bị bác. Theo nghĩa hào Thượng thời phần xấu thuộc về tiểu nhân. Tuy tiểu nhân bác được quân tử, nhưng cuối cùng thời quân tử hết mà tiểu nhân cũng không còn, nên nói rằng tiểu nhân hác lư. Thử xem từ xưa đến nay, trải bao nhiêu cuộc biến loạn, nhân loại điêu linh, quân tử tuyệt tích làm nên cuộc Bác chính là tay tiểu nhân.

Mà đến khi bác chung, quốc vong chủng diệt thời tiểu nhân cũng xong đời, chẳng bao giờ thấy những tay làm bác mà còn mãi được, ấy mới biết câu tiểu nhân bác lư, thiệt có sự thực, chứ không phải lí luận suông. Thử xem sử Tàu, khi Hán vong thời những bọn tiểu nhân như Thập Thường Thị cũng không còn; sử nước ta, khi Lê vong thì những bọn tiểu nhân như Hoàng Phúc Ngô Thì Nhậm cũng không anh nào có chốn dụng thân. Đó là tự bác kì lư vậy. Trên kia, ba hào dụng chữ bác sàng, sàng là chốn quân tử an thân mà bị tiểu nhân bác.

Đến hào Thượng thời dụng chữ bác lư; lư là chốn tiểu nhân dụng thân mà tiểu nhân tự mình nó ra tay bác. Lòng thánh nhân thương quân tử mà ghét tiểu nhân, xem ở lời thí dụ lại càng minh bạch lắm. Tượng viết: Quân tử đắc dư, dân sở tái dã, tiểu nhân bác lư, chung bất khả dụng dã. Thế đạo đã đến hồi Bác cực là loạn đã cực rồi thời nhân tình trông mong trị, vì lòng người tự trị nên khuynh hướng vào quân tử. Quân tử là chỉ vào nhất dương, đắc dư là nhân dân vui lòng chở đỡ người ấy ( Tái: chở).

Còn như tiểu nhân thời bác đã cùng mà kiếp cùng cũng đến giữa thân tiểu nhân, kết quả thời tiểu nhân cũng chẳng làm nên việc gì. Chung: Bác chi cực, bất khả dụng: bọn tiểu nhân kia, không ai ngó tới nó nữa. PHỤ CHÚ: Đọc hết quẻ này mà phát minh một nghi nghĩa. Nguyên đầu hết thuần dương là quẻ Càn, biến một nét dưới hết thành ra quẻ Cấu; lại lần biến hết bốn dương thành các quẻ Độn, Bĩ, Quán. Biến hết năm dương thành quẻ Bác, chốc nữa biến hết sáu dương thành quẻ Bát Thuần Khôn. Thế thời trải đoạn Bác qua Khôn mà nhất là trong lúc quẻ Khôn, chẳng phải là không dương hay sao?

Đạo lí đó tiên Nho Trình, Chu giải thích rất phân minh, nay dịch ra như sau này: Nguyên lai, có cả âm, dương, mới thành được vũ trụ, thiên đạo có bao giờ không dương hay không âm đâu? Chỉ tranh nhau ở chốn nhất tiêu, nhất túc, nhưng mà tiêu tức đã hiện ra ở chốn hữu hình thời chúng ta thấy được, tiêu tức còn nấp nép ở chốn vô hình thời chúng ta không thấy được. Dịch có bao giờ bảo dương hết đâu, bác hết ở trên thời đẻ ngầm ở dưới, chính ở giữa quẻ Khôn là dương cương đẻ ngầm mà vô hình, chốc đến quẻ Phục thời dương đã xuất hiện mà hữu hình.

Nhất dương ở dưới quẻ Phục cũng chỉ là nhất dương ở trên quẻ Bác. Duy trung gian ở quẻ Khôn là dương đương kết thai, kết thai đủ chín tháng mười ngày mà sinh ra ở quẻ Phục, chúng ta vì không thấy ở lúc kết thai nên nghi là không dương. Về phần âm cũng thế, chính giữa quẻ Càn cũng không phải là không âm. Bây giờ thử lấy mỗi quẻ mà phổi hợp với mỗi tháng, mỗi một tháng chỉ sinh được có một nét, tức là một hào, nhưng mà một hào đó há phải đột nhiên mà sinh ra đâu.

Tỉ như: Quẻ Khôn là quẻ tháng Mười, theo trên mặt quẻ, tuy là thuần âm, nhưng trong một tháng ba mươi ngày, mỗi một ngày thời dương đã sinh ngầm một phân, chưa đủ ba mươi phân thời bào thai nhất dương chưa hoàn mãn. Đến cuối tháng vừa đủ ba mươi ngày thời khí dương cũng sinh đầy ba mươi phân, vừa bắt đầu vào tháng Mười Một thời thấy một hào dương xuất hiện mà thành quẻ Phục, nhưng một hào dương đó vẫn phối thai ở lúc còn trong tháng Mười, có bao giờ vô dương đâu. Chúng ta hiểu được đạo lí ấy thời biết được đương giữa lúc thiên hạ cực loạn chính là con nhà trị đã sinh ngầm rồi.

Vì mắt chúng ta chỉ thấy được ở chốn hữu hình mà không ai để mắt đến chốn vô hình. Than ôi! Thiên đạo quá bất trắc, nhân sự quá vô thường. Vậy nên chúng ta càng nên nghiên cứu Dịch lí

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Sơn Địa Bác là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Sơn Địa Bác Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 23 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Sơn Địa Bác Là Gì?

Thượng quái là Cấn, tượng núi; hạ quái là Khôn, tượng đất. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 剝: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Sơn Địa Bác. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 22: Sơn Hỏa Bí · Quẻ 24: Địa Lôi Phục

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline