Quẻ Trạch Sơn Hàm (咸) là quẻ số 31 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Đoài (đầm), hạ quái là Cấn (núi). Hàm nói về cảm ứng. Hình tượng núi dưới, đầm trên được triển khai qua những bộ phận của thân thể trong sáu hào, giúp đọc sự tương tác ở nhiều mức độ khác nhau.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Trạch Sơn Hàm Là Gì?
| Số thứ tự | 31/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Trạch Sơn Hàm — 咸 |
| Thượng quái | Đoài — Đầm |
| Hạ quái | Cấn — Núi |
| Hào dương | 3 |
| Hào âm | 3 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Cấn, ba hào sau tạo thượng quái Đoài. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Trạch Sơn Hàm
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
咸:亨。利貞。取女吉。
Nguyên Văn Thoán Truyện
咸,感也。柔上而剛下,二氣感應以相與,止而說,男下女,是以亨利貞,取女吉也。天地感而萬物化生,聖人感人心而天下和平;觀其所感,而天地萬物之情可見矣!
Nguyên Văn Đại Tượng
山上有澤,咸;君子以虛受人。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Đoái trên; Cấn dưới Quẻ này là quẻ Trạch Sơn Hàm. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Trạch Sơn Hàm. TỰ QUÁI Tự quái: Hữu thiên địa nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ nhiên hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ nhiên hậu hữu phụ tử, hữu phụ tử nhiên hậu hữu quân thần, hữu quân thần nhiên hậu hữu thượng hạ, hữu thượng hạ nhiên hậu lễ nghĩa hữu sở thố. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Nguyên đầu tiên có trời đất, vậy sau mới có vạn vật; đã có vạn vật, vậy sau mới có trai gái; đã có trai gái, vậy sau mới có âm dương giao kết mà thành phu phụ; đã có phu phụ, vậy sau mới có công sinh dục mà thành cha con; đã có cha con, vậy sau mới có trật tự ở loài người, mới nảy ra quân thần; đã có quân thần, vậy sau mới có chế độ mà chia làm thượng hạ; đã có thượng hạ, vậy sau mới có chốn mà sắp đặt nên lễ nghĩa.
Thiên địa là nguyên tổ của vạn vật, phu phụ là nguyên thỉ của loài người. Sở dĩ Thượng Kinh đặt quẻ Càn, quẻ Khôn ở đầu. Hạ Kinh đặt quẻ Hàm, quẻ Hằng ở đầu mà sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là ý nghĩa như thế. Thiên địa là nhị thể nên chia ra làm hai quẻ, để hình dung cái đạo của trời đất, trai gái thời hợp nhau mà thành phu phụ, nên quẻ Hàm với quẻ Hằng thảy là hai thể hợp làm một quẻ, để chỉ rõ cái nghĩa của phu phụ. ( Hàm, nghĩa là cảm). Quẻ này Đoài ở trên, Cấn ở dưới, Đoài là thiếu nữ, Cấn là thiếu nam, cảm với nhau rất thân thiết, không chi bằng thiếu nam, thiếu nữ.
Vậy nên, lấy ý nhị thiếu cảm nhau mà đặt tên quẻ bằng Hàm. PHỤ CHÚ: Quẻ Hàm với quẻ Hằng thảy là quẻ nhất nam nhất nữ, nhưng quẻ Hàm thời thiếu nam phải hạ ở thiếu nữ. Vì bắt đầu nam nữ tương cảm có như thế mới thành phu phụ. Nếu trái lại, bắt thiếu nữ cầu với thiếu nam mà nữ phải hạ nam, thế là nữ bất trinh mà nam cũng không cảm làm sao nên được Hàm. Đến như quẻ Hằng thời sau khi phu phụ đã thành rồi nghĩa phải vợ thừa thuận chồng nên trưởng nam ở trên, trưởng nữ ở dưới.
Nếu trái lại, trưởng nữ trên, trưởng nam dưới là trái nghĩa phu phụ thời làm sao hằng cửu được. Ý sắp quẻ, với đặt tên quẻ của thánh nhân là lí do như thế. Thượng Kinh thủ Càn, Khôn là nói chung nguyên lí của toàn vũ trụ; Hạ Kinh thủ Hàm, Hằng là bàn riêng về phần nhân sự, nhưng nếu không nhân sự thời lấy gì mà thành vũ trụ, bốn quẻ đặt đầu hai Kinh, rất có ý nghĩa. SOÁN TỪ Hàm, hanh, lị, trinh, thú nữ, cát. Hàm, nghĩa là cảm, lại một nghĩa là tất thảy. Vật tình tương cảm không gì thân thiết hơn nam nữ, quẻ này thiếu nam thiếu nữ kháp nhau mà lại nam hạ nữ, chính là cảm tình rất thân mật.
Nếu suy ra đến triều đình, quốc gia, xã hội, cho đến khắp loài người mà tới đâu cũng cảm ứng thân thiết với nhau như thế thời tất nhiên thảy được hanh thông. Nên nói rằng: Hàm hanh ( Hàm hanh: đã cảm tất nhiên thông). Tuy nhiên, loài người vẫn nhờ có cảm nhau mới có thể ăn ở với nhau được mà thành ra xã hội, nhưng mà động cơ cảm có nguyên nhân vì chính, có nguyên nhân vì tà; nguyên nhân vì chính thời cảm mà đằm thắm lâu dài, nguyên nhân vì tà thời cảm đã không ra gì mà kết quả tất xấu.
Tỉ như: Trai gái mà cảm nhau bằng cách tà dâm, tất nhiên trước nồng sau đạm; trên dưới mà cảm nhau bằng cách nịnh hót giả dối, tất nhiên hữu thỉ vô chung. Bởi vì: Tương cảm đã bất chính, có bao giờ lợi đâu, nên Quái từ lại răn cho rằng: lợi trinh. Lợi trinh, nghĩa là: Hễ cảm thời thông, nhưng tất phải cảm cho chính, nếu biết theo đạo ấy, lấy tình cảm nhau mà tương hợp, lấy đạo chính mà tương giao, theo lối ấy mà cưới con gái làm vợ thời chắc được tốt lành. PHỤ CHÚ: Hàm hanh, lị trinh là nói chung đạo lí tương cảm trong thiên hạ.
Thú nữ, cát là nói riêng bằng một việc vợ chồng, nhưng ý nghĩa vẫn dếnh với chữ trinh. Trái lại, thú nữ mà bất trinh thời làm gì được cát. Nguyên chữ Hàm, nghĩa là cảm, sao không đặt tên quẻ bằng cảm mà đặt tên bằng Hàm? Bởi vì, Cảm gốc ở công lí mà không phải cảm bằng tư tâm. Nếu lấy tư tâm mà cảm thời ứng lại cũng chỉ là tư tâm, không lấy gì nên được đạo cảm. Chữ cảm vì có chữ tâm ở dưới nên không lấy chữ cảm đặt tên quẻ mà đặt bằng Hàm, vì chữ Hàm là vô tâm, duy vô tâm mới là chân cảm.
SOÁN TRUYỆN Soán viết: Hàm, cảm dã. Nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ, chỉ nhi duyệt, nam hạ nữ, thị dĩ hanh, lị, trinh, thú nữ cát dã. Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình. Quan kì sở cảm nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ. Soán viết: Hàm, cảm dã. Hàm nghĩa là cảm, nhưng trước khi cảm thời chỉ là Hàm, nghĩa là hai bên thảy chỉ tự nhiên mà tương hợp. Vì tự nhiên tương hợp nên cảm duyệt càng sâu. Hàm là tạo nhân mà cảm là kết quả.
Xem chữ Hàm không có chữ tâm mà chữ cảm thời thêm vào chữ tâm ở dưới thì sẽ biết. Nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ, chỉ nhi duyệt, nam hạ nữ, thị dĩ hanh, lị, trinh, thú nữ cát dã. Theo về thể quẻ thời hào nhu biến được cương mà lên làm Đoài, hào cương biến được nhu mà xuống làm Cấn, Cấn sơn, Đoài trạch, hai khí âm dương cảm ứng mà hòa hợp với nhau. Theo về đức quẻ thời Cấn có tính chỉ, Đoài có tính duyệt, yên lặng mà hòa duyệt. Theo về tượng quẻ thời Cấn tượng là thiếu nam, Đoài tượng là thiếu nữ, nam trước cầu nữ mà chịu ti hạ với nữ, góp mấy câu trên đây, rặt hợp với đạo tương cảm.
Vậy nên nói rằng: Hanh, lị trinh, thú nữ, cát. PHỤ CHÚ: Chỉ nhi duyệt là thích chữ trinh ở Quái từ. Hễ thường tình đã duyệt thời hay võng động, động mà duyệt thời cách duyệt hay sai, duy chỉ mà duyệt thời cách duyệt mới đắc chính. Sách Luận Ngữ có câu: Nhất nhật khắc kỉ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. nghĩa là: Mình lo trừng trị tư tâm mình, hoàn phục được thiên lí nên thiên hạ tự nhiên quy hướng vào đức nhân của mình. Đó là chỉ nhi duyệt (Chữ chỉ có ý như chữ tính). Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình.
Quan kì sở cảm nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ. Đây nói cho rộng hết lí cảm ứng, cảm rất to không gì bằng trời đất, trời lấy khí dương mà hạ cảm với đất, đất lấy khí âm mà thượng cảm với trời, âm dương giao cảm với nhau mà vạn vật thảy được hóa sinh. Chữ hóa thuộc về phẩn khí, chủ sinh thuộc về phần hình. Tỉ như con tước hóa ra được con cáp, cỏ hủ hóa ra được con đóm, v.v. đó là hóa. Có giống sinh bằng thai, có giống sinh bằng trứng, v.v. đó là sinh.
Đạo cảm của thánh nhân, cũng in như đạo cảm của trời đất, thánh nhân khuếch sung đức chí thành, phát triển đạo đại công, cảm động được lòng ức triệu người mà thiên hạ được đến hòa bình. Xem ở nơi những cách sở cảm mà chân tình của thiên địa vạn vật có thể thấy được. Chữ tình gốc ở chữ tính mà ra, nhưng tính thời tịch nhiên bất động thuộc về phần thể, tình thời cảm nhi toại thông thuộc về phần dụng, nên tính thời khó thấy mà tình thời có thể thấy được. Tình thiên địa cốt ở nơi sinh vạn vật, mà tình vạn vật cốt ở nơi ứng với thiên địa.
Tỉ như: Gặp Xuân, Hạ thời vật gì cùng sinh trưởng, gặp Thu, Đông thời vật gì cũng thu tàng. Đó chính là tình cảm ứng của thiên địa, vạn vật. Thấy được tình thiên địa thời thấy được tình thánh nhân nên không cần nói đến thánh nhân chi tình. Thánh nhân với thiên hạ cũng như thiên địa với vạn vật. Duy người có triết học thời mới nhận ra được. Tượng viết: Sơn thượng hữu trạch, Hàm. Quân tử, dĩ hư thụ nhân. Tượng Truyện không theo ý nghĩa Quái từ, không lấy bằng nghĩa nam nữ tương cảm mà chỉ lấy bằng tượng quẻ.
Cấn là sơn mà ở dưới, Đoài là trạch mà ở trên, tượng là ở trên núi có cái chằm nước, vì sơn có vững thủng xuống mà đựng được trạch, trạch vì trong lòng rỗng không mới đựng được nước. Quân tử xem tượng biết được rằng: Có rỗng không trong lòng mình, chẳng cho giống gì tiên nhập vi chủ mới dung thụ được người, nên lấy một cách hư trung để thụ nhận. Hư trung nghĩa là không rỗng trong lòng, tức là chữ vô ngã mà cũng là vô tư. Hễ trong lòng mình mà trước sẵn có tư ý, hoặc lợi dục riêng, thời té ra trung mãn.
Trung mãn nghĩa là trong lòng chét đặc, còn dung thụ được gì nữa, nên quân tử dĩ hư thụ nhân. PHỤ CHÚ: Tâm thuật người ta, theo về bản thể thời tất phải trung thực, trung thực, nghĩa là trong chất chứa lòng chí thành, nếu bất thành thời vô vật nên cần phải trung thực. Theo về cách ứng dụng thời lại phải trung hư. Trung hư nghĩa là không rỗng trong lòng, chớ có tư ý vật dục vào chiếm trước bộ phận trung tâm mình. Nếu tự ý vật dục đã lọt trước vào trung tâm mình thời thành ra trung mãn, tâm người ta đã trung mãn rồi, tất không dung nạp được đạo lí của thiên hạ cổ kim nên lại cần phải trung hư.
Chúng ta nghiên cứu tâm lí học, nên phải đủ cả hai phương diện ấy. Vậy nên học Dịch lại phải xem quẻ Đại Súc nói chữ “đốc thực”, quẻ Hàm nói chữ “hư”, hai nghĩa đó vẫn bổ túc cho nhau
Sáu Hào Của Quẻ Trạch Sơn Hàm
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:咸其拇(一作母)。
Phan Bội Châu chú giải:
Hàm kì mẫu. Hào này ở dưới hết Hạ Quái, tượng như ngón chân cái ở dưới hết thân người mà lại thượng ứng với hào Tứ, nghĩa là dưới thấp mà cảm ứng với trên xa, sức cảm còn hèn mọn, chưa lấy gì cảm động được lòng người. Tượng như chỉ động một ngón chân cái thời chưa động được mấy. Nên nói rằng: Hàm kì mẫu ( Mẫu: ngón chân cái). PHỤ CHÚ: Hào từ với Quái từ thủ nghĩa khác nhau, Hào từ thủ tượng bằng thân người. Kể tự dưới kể lên thời địa vị Sơ chính đứng với mẫu.
Lên nữa thời Nhị là bắp chân, Tam là trái vế, đến Tứ thời đúng ở lòng bụng, Ngũ là trên lưng, Thượng là miệng mép. Hễ lên từ nào thời sức động mạnh từ ấy, cảm mà chuyên bằng động thời cảm không hay nên sáu hào cốt ở tĩnh, tĩnh mà cảm được người thời cảm mới hữu lực. Sơ Lục hàm kì mẫu là có hơi động mà chưa thiệt động nên không nói cát hung. Tượng viết: Hàm kì mẫu, chí tại ngoại dã. Hào từ nói rằng hàm kì mẫu là Sơ Lục chí tại ứng với Cửu Tứ vậy.
Ngoại là chỉ vào hào Tứ ở Ngoại Quái. Sơ tuy có chí tại ngoại mà chưa thiệt động hung nên nói rằng: Hàm kì mẫu
Hào 2 — Lục Nhị
Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六二:咸其腓,凶,居吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Hàm kì phì, hung, cư cát. Phì là trái bắp chân, hễ sắp sửa đi thời nó động trước, tượng như một người có tính táo động. Lục Nhị sở xử chính đúng với chốn phì, Nhị lại thượng ứng với Ngũ nên thánh nhân có lời răn rằng: Nhị tuy muốn cảm ứng với Ngũ nhưng Nhị phải biết: Nhị là người dưới, Ngũ là người trên; người dưới muốn cảm được người trên tất mình phải trước tự trọng lấy mình, im lặng mà chờ người trên cầu mình, mới có lẽ hay. Nếu anh gấp bốn tẩu, nóng lên cầu Ngũ ứng với mình, té ra cách cảm bằng bắp chân, chân chưa đi mà bắp đã động, e đến nỗi xấu.
Nhưng vì Nhị là người trung chính nên thánh nhân lại khuyên cho rằng: Thấy người sang bắt quàng làm họ, Nhị không đến nỗi thế, Nhị cứ tự trọng lấy thân, ngồi lặng an ở chờ Ngũ tới cầu minh thời cát. Nói hàm kì phì, hung là răn cho Nhị không nên động. Lại nói cư cát là khuyên cho Nhị nên giữ cách tĩnh. Tượng viết: Tuy hung, cư cát, thuận bất hạì dã. Lục Nhị tuy hung, nhưng biết cư tĩnh thời được cát là vì thuận theo đạo lí thời không tai hại gì vậy
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:咸其股,執其隨,往吝。
Phan Bội Châu chú giải:
Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lẫn. Cổ là trái vế ở trên đầu gối là một giống không đủ sức tự động, chân có động thời mới động theo. Cửu Tam xử ở địa vị trên Nội Quái, ví vào thân người thời tượng như trái vế, vì có tính cương táo hí động, thấy người động mà động theo. Ở trên Tam có hào Tứ, Tứ động thời Tam động theo, in như cái vế theo chân mà động đến nỗi mất tự do của mình, nên Hào từ răn rằng: Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lẫn. Nghĩa là: Cảm người mà chỉ dùng bằng một cách như cái vế, chỉ cầm giữ lấy cách theo người, cứ thế mà đi hoài, tất nhiên mắc lấy xấu hồ.
Tượng viết: Hàm kì cổ, diệc bất xử dã, chí tại tùy nhân, sở chấp hạ dã. Hàm kì cổ là hào Tứ bất xử thời hào Tam cũng bất xử vậy ( Bất xử: không an ở). Nhưng hào Tam há phải có sức tự động đâu, chỉ là chí ở theo người, thấy người động mà động theo, cách trì thủ của Tam thiệt là ti hạ lắm vậy
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:貞吉悔亡,憧憧往來,朋從爾思。
Phan Bội Châu chú giải:
Trinh cát, hối vong, đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư. Toàn quẻ Hàm sáu hào thảy thủ tượng bằng thân người. Hào Sơ là mẫu; hào Nhị là phì; hào Tam là cổ. Đến hào Tứ này sơ xử dưới thượng thể, vừa đoạn giữa nhân thân, chính đúng vào bộ phận tâm mà tác dụng của tâm là cốt biết hay nghĩ, vả lại, hào Tứ tuy có tính dương cương mà lại ở vào thể Đoài thời có tính hòa duyệt, chính là một hạng người nặng vì cảm tình. Vậy nên, Hào từ không thủ tượng bằng hình thể mà chuyên nói về tinh thần.
Trinh, cát, hối vong nghĩa là đạo cảm người có trinh nhất mới được cát mà mất hết những việc đáng ăn năn. Chủ trinh ở đây, nghĩa là chí công vô tư, hư trung vô ngã, cảm người bằng một cách tự nhiên. Cứ lấy lẽ đại công chí chính mà ứng phó với đời, không cần cầu người ứng mà người tự nhiên ứng vào mình, như thế mới là trinh cát. Trái lại, một phương diện mình lo cảm người mà một phương diện thời lại mong người ứng lại với mình. Tỉ như câu trong Kinh Thi nói: Đầu ngã dĩ đào báo chi dĩ lí, thành ra mình đeo đào cho người mà mong người đeo lí giả lại cho mình.
Thế là cảm đã hữu tâm mà ứng cũng xuất ở hữu tâm, chỉ là đồng đồng vãng lai mà thôi. Đồng đồng có ý như săn săn sóc sóc, hoặc mình vãng mà mong người lai, hoặc thấy người vãng mà mình mới lai, cảm với nhau bằng một cách dụng tâm cố ý như thế là gọi bằng đồng đồng vãng lai. Hễ đã đồng đồng vãng lai thời dầu có kẻ lai, cũng chẳng qua những người mình có vãng. Nhưng bằng theo mấy loại đó, phạm vi không gì rộng, đoàn thể không gì to, xung xăng qua lại, cũng chẳng qua những người mà bụng mày nghĩ tới nơi mà thôi, như thế là bằng tòng nhĩ ti.
Hệ tử giải thích Hào từ này rất hay, xin thích dịch ra cho tường. Vì có hai chữ vãng lai với một chữ ti mà diễn thành một thiên đạo lí, bao hàm vạn tượng, tóm hết lí vũ trụ vào trong mấy câu: đó mới biết cách thánh nhân học Dịch. Xin độc giả chịu khó mà nhận xét cho đến nơi. Hệ tử nói rằng: Thiên hạ hà tư hà lự, thiên hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự. Thiên hạ hà tư hà lự, nhật vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi minh sinh yên; hàn vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên.
Vãng giả khuất dã, lai giả thân dã, khuất thân tương cảm nhi lị sinh yên; xích quặc chi khuất, dĩ cầu thân dã; long xà chi trập, dĩ tồn thân dã; tinh nghĩa nhập thần, dĩ trí dụng dã, lị dụng an thân, dĩ sùng đức dã; quá thử dĩ vãng, vị chi hoặc tri dã, cùng thần trí hóa, đức chi thịnh dã. Đạo lí trong thiên hạ, chỉ có một lẽ cảm với ứng, cảm bằng tự nhiên mà ứng cũng tự nhiên, có cần gì phải dụng tư tâm tư lự đâu ( Tư: ngẫm nghĩ bằng bụng riêng; lự: tính toan bằng mẹo vặt).
Kể dọc thời cổ vãng đến kim lai, kể ngang thời khắp năm châu bốn bể, thiên hạ đường đi tuy khác nhau mà đến lúc quy kết thời in nhau, sắp đặt tuy có trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ. Như thế thời đạo lí trong thiên hạ cần gì phải ngần nghĩ bằng bụng riêng, cần gì phải tính toan bằng mẹo vặt. Thử xem lí cảm ứng lớn rất cùng cực đến vũ trụ, rất nhỏ đến một giống vật gì, cũng chỉ là cảm ứng đắp đổi nhau mà thôi. Cảm là động cơ, đã có cảm tất có ứng, mà cái ứng đó quay lại làm cái cảm, tạo nhân trước thành ra kết quả sau, mà kết quả sau, lại làm tạo nhân cho sau nữa.
Tỉ như mặt trời chạy qua cảm cho mặt trăng thời mặt trăng ứng lại với mặt trời; mặt trăng chạy qua cảm với mặt trời thời mặt trời ứng lại cho mặt trăng. Nhật nguyệt đôi bên nhất vãng thời nhất lai, nhất lai thời nhất vãng, xô đẩy nhau hoài mà tia sáng tự nhiên nảy nở ra, mùa rét qua cảm được nắng thời nắng ứng lại; mùa nắng qua cảm được rét thời rét cũng ứng lại. Nhất hàn nhất thử, vãng vãng lai lai, xô đẩy nhau hoài hoài mà công việc trong một năm tự nhiên thành tựu. Trên đây là cảm ứng hiệu quả ở giữa chốn hữu hình mà chỉ thuộc về phần không gian, lại xem đến phần thì gian thời càng không phút nào nghỉ.
Tỉ như, trong một thời giờ đó nhưng tất cũng có mấy phút trước là vãng, lai có mấy phút sau là lai; vãng là cái đã qua đi là co rút lại, lai là sắp sửa tới là kéo dài ra. Khuất thân cảm ứng với nhau, vì có khuất mới có thân, vì có thân mới có khuất; khuất thân cảm nhau hoài hoài mà lị ích mới nảy nở ra. Đó lại là lí cảm ứng thuộc về phần tinh thần vậy. Lí khuất thân đó chứng nghiệm vào giống vi vật càng minh bạch lắm. Khuất, nghĩa là co rút lại; thân, nghĩa là thẳng dài ra, tức như giống sâu xích quặc ( Xích quặc: chúng ta thường gọi con sâu đo).
Khi nó co rút lại là cốt cầu cho được ngay thẳng mình nó ra. Kìa giống rồng, rắn, khi nó nấp dưới đất, ngầm dưới vực, cốt cầu giữ thân nó để sẽ chờ ngày bay lượn vậy ( Khuất ấy là cảm, cầu thân ấy là ứng, trật ấy là cảm, tồn thân ấy là ứng). Xem lẽ khuất thân như hai giống trên kia thời khí cơ cảm ứng không chốn nào không quân tử, vì thế mới suy ra làm đạo dưỡng tâm tu thân thời như sau này nói. Toan phát triển ra sự nghiệp, trước phải lo bồi dưỡng lấy trí thức, nghiên tìm nghĩa lí cho thấu được chốn tinh vi, thâm nhập đến thần diệu, tức sở dĩ suy ra làm công dụng cho tới nơi vậy.
Đã lợi tiện ở nơi công dụng, lại càng an định tâm thân mình để khiến cho đức nghiệp càng cao lớn vậy, vì có tinh nghĩa nhập thần mà được trí dụng ứng cho, lại vì có lợi dụng yên thân mà được sùng đức ứng cho. Khi đã trí dụng sùng đức rồi thời từ đó mà tiến lên mãi mãi, rất mực thần diệu, vô thể vô phương, không thể lấy mắt người thường mà trắc lường được. Sách Mạnh Tử có câu: Thánh nhi bất khả tri chi, chi vị thần dã. chính là tới địa vị ấy. Sở dĩ “vị chi hoặc tri”, bởi vì khi sau đã trí dụng sùng đức cùng cực thần diệu rồi, biết hết lẽ biến hóa rồi là thánh đức quá chừng thịnh đó vậy.
PHỤ CHÚ: Hệ tử thích Hào từ quẻ Hàm mà suy rộng đến nhật nguyệt hàn thử là đạo lí rất lớn. Xét lại đến xích quặc, long xà là sự vật rất nhỏ. Kìa con sâu đo, nó co lại, lại ngay ra, nó ngay ra, lại co lại, chúng ta chẳng mấy người để ý đến nó, thánh nhân nhân nó mà suy biết đạo lí cảm ứng khuất thân, mới biết rằng lẽ trong thiên hạ, không giống gì nhỏ mà không đạo lí. Phật Tổ có câu: “Xương khô cây hủ, tất thảy có tính Phật”. Trang Tử cùng có câu: “Giống khô hủ cũng hóa ra được thần kì”, thảy là lẽ ấy.
Làm một người tu thân thiệp thế chỉ cần có hai chữ: “tri”, “hành”. Tinh nghĩa nhập thần là thuộc về phần tri, vì tri được tinh mới hành được đáo, tức là trí dụng. Lợi dụng yên thân là thuộc về phần hành. Vì hành được tới nơi thời tri càng tăng tiến, tức là sùng đức. Thầy Vương Dương Minh chủ trương thuyết tri hành hợp nhất, nghĩa là tri với hành hợp nhau làm một việc. Hễ tri đã đến nơi tất nhiên hành được đến nơi, vả đã tri tất phải hành. Nếu bảo rằng tri được mà không hành được thời cái tri đó không phải là chân tri, nên thánh nhân dạy cho ta hai chữ tinh nghĩa.
Trong thiên hạ, hễ có việc gì, tất có nghĩa của việc ấy, ta trước phải tinh thấu cho đến nghĩa của việc ấy, khi tinh thấu được nghĩa của việc ấy, tất nhiên làm được hoàn toàn công dụng của việc ấy. Đó lại là lấy tri mà vun đắp cái nền tảng cho hành. Khi đã tri dụng rồi là hành đã có thành hiệu rồi thời nhờ đó mà thêm phần cao đức mình. Đó lại là nhân hành mà mở rộng thêm phạm vi cho tri. Ví như biết được đường chắc chắn, tất nhiên đi đến nơi mà lại trải qua một lần đi càng thêm biết được đường.
Nghĩa tri hành hợp nhất của thầy Vương dương Minh rất đúng với nghĩa câu tinh nghĩa nhập thần của Khổng Tử. Nước Nhật Bản trước hồi Duy Tân rất sùng trọng Vương học, bao nhiêu chí sĩ gây nên sự nghiệp Duy Tân thảy con nhà Vương học. Tượng viết: Trinh cát, hối vong, vị cảm hại dã, đồng đồng vãng lai, vị quang đại dã. Trinh thời được cát mà lại hối vong. Vì sơ cảm được đại công mà không mắc hại bằng tư cảm vậy. Đồng đồng vãng lai thời chỉ bằng tòng nhị ti mà thôi, không lấy gì quang đại vậy (Chữ vị ở đây như nghĩa chữ phi)
Hào 5 — Cửu Ngũ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九五:咸其脢,无悔。
Phan Bội Châu chú giải:
hàm kì muội, vô hối. Muội là đám thịt ở trên lưng, ở trên bụng mà lại trái với bụng, lấy tượng toàn quẻ mà thủ nghĩa bằng thản người thời Cửu Ngũ chính xử vào vị muội; muội là không thấy được tâm nên thánh nhân thủ tượng bằng muội mà răn cho Ngũ rằng: Ngũ muốn cảm được người thiên hạ, tất phải dùng đạo chí thành tự nhiên, không thấy được tư tâm, như thế thời hợp được đạo chính mà không đến nỗi hối. Tượng viết: Hàm kì muội, chí mạt dã. Hào từ sở dĩ phải răn hàm kì muội bởi vì Ngũ dây dướng với Nhị lại duyệt với Thượng.
Thánh nhân ghét nó tâm chí đê mạt mà răn cho như vậy ( Mạt: đê hèn)
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:咸其輔,頰,舌。
Phan Bội Châu chú giải:
Hàm kì phụ, giáp, thiệt. Thượng Lục bản chất âm nhu mà ở vào thể Đoài làm chủ cho thể duyệt lại ở cuối cùng quẻ Hàm là cảm chi cực, muốn cảm người quá mà vẫn không chí thành, chỉ uốn nắn ở nơi miệng lưỡi, toan dùng cách ngôn ngữ động nhân, in thói thường tiểu nhân, nữ tử nên Hào từ nói rằng: Hàm kì phụ, giáp, thiệt ( Phụ: mép, giáp: má, thiệt: lưỡi; tất thảy là giống để mà nói, chỉ dùng cách nịnh hót mà cảm động người nên tượng như thế). Tượng viết: Hàm kì phụ, giáp, thiệt, đằng khẩu thuyết dã.
Lẽ trong thiên hạ, duy chí thành mới cảm được lòng người, kia chỉ múa miệng uốn môi, cảm gì được ai ( Đằng có ý như múa men, hào này, ở trên hết quẻ nên thủ tượng bằng miệng lưỡi)
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Trạch Sơn Hàm là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Trạch Sơn Hàm Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 31 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Trạch Sơn Hàm Là Gì?
Thượng quái là Đoài, tượng đầm; hạ quái là Cấn, tượng núi. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 咸: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Trạch Sơn Hàm. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 30: Thuần Ly · Quẻ 32: Lôi Phong Hằng


Hotline