Quẻ Thuần Ly: Sự Sáng Và Nơi Nương Tựa, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Thuần Ly số 30: Ly trên, Ly dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Thuần Ly (離) là quẻ số 30 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Ly (lửa), hạ quái là Ly (lửa). Ly vừa gắn với sáng, vừa có nghĩa bám vào hoặc nương vào. Hai quái Ly chồng nhau cho thấy ánh sáng tiếp nối; việc giữ chính là điều kiện được nhắc rõ trong lời quẻ.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Thuần Ly Là Gì?

Số thứ tự 30/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Thuần Ly — 離
Thượng quái Ly — Lửa
Hạ quái Ly — Lửa
Hào dương 4
Hào âm 2

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Ly, ba hào sau tạo thượng quái Ly. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thuần Ly

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

離:利貞。亨。畜牝牛,吉。

Nguyên Văn Thoán Truyện

離,麗也;日月麗乎天,百穀草木麗乎土,重明以麗乎正,乃化成天下。柔麗乎中正,故亨;是以畜牝牛吉也。

Nguyên Văn Đại Tượng

明兩作離,大人以繼明照于四方。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Ly trên; Ly dưới Quẻ này là quẻ Bát Thuần Li. Li hạ cũng là Nội Li, Li thượng cũng là Ngoại Li. Trên dưới, trong ngoài thảy Li nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Li. TỰ QUÁI Tự quái: Hãm tất hữu sở lệ, cố thụ chi dĩ Li, Li giả lệ dã. Ý sắp đật thứ tự quẻ. Sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li là vì cớ sao? Khảm nghĩa là hãm, đã hãm rồi tất phải có chốn nương dựa, nên sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li. Li nghĩa là lệ. Chữ Li có hai nghĩa: Một nghĩa Li là lệ; theo về thể quẻ một nét âm ở giữa, nương dựa vào hai nét dương ở trên dưới nên học nghĩa Li là lệ.

Lại một nghĩa Li là minh; vì chính giữa nét đứt đôi, tức là giữa trống không, tượng là trung hư, hư thời sáng. Lại tượng là mặt trời là lửa, thảy là giống sáng soi nên học nghĩa Li là minh. PHỤ CHÚ: Dịch đến quẻ Khảm, Li là cuối cùng Thượng Kinh, chúng ta nên nhận cho ra ý thánh nhân sắp thứ tự quẻ. Vi sao mà sáu mươi tư quẻ. Càn, Khôn ở đầu hết, Khảm, Li ở trung gian. Ngầm nghĩ cho đến nơi thời có ý nghĩa rất hay. Càn, Khôn là chân thể của trời đất mà làm nguyên tổ cho âm dương nên đặt đầu hết Kinh.

Khảm, Li là trung tâm điểm của Càn, Khôn mà làm nên công dụng thủy, hỏa, bao nhiêu công dụng tạo hóa trong lưỡng gian, rặt là phát nguyên ở thủy, hỏa; thủy, hỏa thiệt là đắc thiên địa chi trung nên đặt Khảm, Li chính giữa Kinh. Nguyên Dịch lí chỉ có nhất âm nhất dương, thuần âm thành ra Khôn, thuần dương thành ra Càn. Lấy nét chính giữa Càn mà trao đổi cho Khôn thành ra Khảm, lấy nét chính giữa Khôn mà trao đổi cho Càn thành ra Li, nên nói rằng: Khảm, Li là thiên địa chi trung. Theo về phương hướng thời Khảm ở chính Bắc, Li ở chính Nam.

Theo về thì gian thời Khảm là giờ Tí, đúng giữa nửa đêm, Li là giờ Ngọ, đúng giữa nửa ngày. Theo về nhân tâm thời Khảm trung thực là chữ Thành; Li trung hư là chữ Minh. Trung thực nghĩa là trong lòng chắc đặc, ấy là thành. Trung hư nghĩa là trong lòng trông không, ấy là minh. Thành, minh thảy khởi tự trong lòng mà ra, đó chính là diệu dụng của Khảm, Li. Vì chân lí là vô hình nên thánh nhân phải mượn vạch quẻ là hữu hình mà phát minh cho ta hiểu. Càn, Khôn ở đầu Kinh, Khảm, Li ở giữa Kinh là bao hàm chân lí như thế.

SOÁN TỪ Li, lị trinh, hanh, súc tẩn ngưu, cát. Nguyên lai chữ Li có nghĩa chính, phản. Nghĩa chính chữ Li là dếnh dựa; nghĩa phản chữ Li là rời lìa. Nhưng ở đây chỉ lấy bằng nghĩa chính thời Li nghĩa là dếnh dựa. Vạn vật không vật gì không chốn dếnh dựa. Tỉ như: Loài chim dếnh dựa vào rừng, cá dếnh dựa vào nước mà đến loài người cũng thế, hoặc bạn hữu dếnh dựa nhau mà nên đức nghiệp, hoặc cha con, vợ chồng, anh em dếnh dựa nhau mà nên gia đình, hoặc loài người dếnh dựa nhau mà nên dân tộc hay xã hội, tất thảy gọi bằng hữu sở lệ.

Nói cho đến rất nhỏ thời dếnh dựa vào đường lối nào mà đi, dếnh dựa vào nghề nghiệp nào mà sống, thảy là hữu sơ lệ. Nghĩa chữ Li lệ bao hàm rất rộng lớn, nhưng mà hễ đã có dếnh dựa thời trong lúc dếnh dựa có hai phương diện: một thời dếnh dựa vào lối chính, một thời dếnh dựa vào lối tà. Tỉ như: Dếnh dựa vào quân tử, thánh hiền, v.v. thời là chính; dếnh dựa vào tiểu nhân, đạo tặc, v.v. thời là tà. Dếnh dựa vào chính thời dếnh dựa mà hay; dếnh dựa vào tà thời dếnh dựa mà dở.

Vì cách dếnh dựa phức tạp mà lại quan hệ nhân sinh như thế nên Quái từ nói rằng: Li, lị trinh, hanh, nghĩa là: Người tất phải có chốn dếnh dựa mà cốt nhất là dếnh dựa cho được chính thời mới hanh. Quái từ lại lấy thêm vào một nghĩa mà thí dụ bằng súc tẩn ngưu, nghĩa là: Li vốn đã minh rồi, nếu minh thái quá thành ra nước trong quá thời không cá, người minh sát quá thời không bầy, nên lại phải hết sức thu liễm đức minh của mình mà nuôi chứa lấy đức thuận của mình. Ví như: nuôi con trâu cái thời được lành.

(Ngưu là thuần vật mà lại tẩn ngưu là thuận chi chí, súc tẩn ngưu là tỉ dụ bằng nuôi đức thuận). Quái từ thêm vào tượng ấy là sợ người ta quá dụng tài minh sát vậy. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ địa. Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãi hóa thành thiên hạ. Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã. Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ địa. Li nghĩa là dếnh dựa. Tỉ như mặt trăng, mặt trời thời dếnh dựa vào thiên không, trăm giống lúa cây cỏ thời dếnh dựa vào trái đất, trong lưỡng gian không một giống gì không dếnh dựa, nhưng Soán Truyện chỉ cử vào giống rất lớn mà nói.

PHỤ CHÚ: Thầy Quy Sơn có câu rằng: Hỏa vô thường hình, lệ vật nhi hữu hình. nghĩa là: Lửa vẫn không hình nhất định (Li nguyên là lửa), vì có chốn dếnh dựa, ta mới thấy được hình. Chính giữa bản thân người được Khảm thủy làm tinh, được Li hỏa làm thần. Vì khí âm dương kết hợp mà thành ra hình. Khi sống thời tinh thần dếnh dựa vào hình. Đó cũng là nghĩa Li lệ. Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãỉ hóa thành thiên hạ. Đây là lấy đức quẻ, thích nghĩa tên quẻ, Lí có tượng là minh, trên Li, dưới Li là có tượng trùng minh.

Nhưng quẻ Li sở dĩ thành quẻ là cốt ở hào Nhị, hào Ngũ nên chỉ nói riêng về Nhị, Ngũ. Nhị, Ngũ thảy xử vào vị trung, thế là trên dưới thảy có đức minh mà lại xử vào vị trung chính là trung minh dĩ lệ hồ chính mới hóa được thiên hạ mà thành ra đời văn minh. Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã. Hào Nhị: hào Ngũ có tính chất nhu thuận mà dếnh dựa ở đạo trung chính, sở dĩ được hanh. Bởi vì thế nên nuôi đức chí thuận mà được cát vậy ( Súc tẩn ngưu, ý là nuôi đức chí thuận vì chí thuận nên tỉ dụ bằng tẩn ngưu, chớ nhận thực rằng tẩn ngưu là trâu cái).

PHỤ CHÚ: Chữ Trung chính ở đây, nói góp cả Nhị, Ngũ, nhưng theo thường lệ ở mỗi quẻ. Lục cư Nhị vẫn trung chính đã đành, còn Lục cư Ngũ thời trung mà bất chính, cớ sao lại nói luôn chữ trung chính? Đó chính là thì nghĩa của Kinh Dịch. Ở vào thời Li chỉ cốt xem ở nơi phụ lệ, phụ lệ vào chốn trung, tức thị chính. Đạo Dịch quý trọng nhất là chữ trung, thiên hạ thường có chính mà không trung, hễ đã trung, tất nhiên chính đó vậy. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Minh lưỡng tác Li. Đại nhân dĩ kế minh, chiếu vu tứ phương.

Minh lưỡng tác ở quẻ Li, cũng như “thủy tấn chí” ở quẻ Khảm. Li là hỏa là nhật, đây chuyên chỉ bằng mặt trời: Mặt trời ngày nay sáng, ngày mai sáng, đức sáng trùng điệp phát khởi hoài. Đó là tượng Li. Bậc đại nhân xem tượng ấy sẽ tiếp tục đức minh, soi dọi ở bốn phương ( Kế: nổi tiếp; kế minh: Nối tiếp đức minh). Tỉ như đời trước minh, đời sau cũng minh; hoặc việc trước minh, việc sau cũng minh, thảy gọi bằng kế minh được cả, nhưng cớ sao chuyên thuộc về đại nhân? Bởi vì có đức như thánh nhân, có vị như bậc nguyên thủ mới có thể chiếu lâm được khắp bốn phương

Sáu Hào Của Quẻ Thuần Ly

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初九:履錯然,敬之无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Lí thác nhiên, kính chi, vô cựu. Xử vào thể Li, sự vật vẫn là phân tạp mà Sơ Cửu dương cương cư hạ, vả lại có tính lửa, càng nóng chảy muốn bùng lên. Tượng như người nóng nảy muốn ra đi, xâu giày nhố nhăng. (Lí: xâu chân vào giày, thác nhiên: có ý lốp xốp). Thánh nhân thấy ở đầu thì Li, sự tình còn lộn nhộn mà tính chất Sơ Cửu lại nóng nảy cầu tiến quá hăng, e không tránh khỏi tội lỗi nên lại răn cho rằng: Kính chi vô cựu, nghĩa là: Phải kính cẩn đậm đà thời mới khỏi tội lỗi.

PHỤ CHÚ: Chữ Kính đây cũng như chữ giới thận, khủng cụ, ở sách Trung Dung, dương cương mà lại li minh, vẫn là chất tốt, nhưng bắt đầu vào thì Li, trí thức chưa được giàu, duyệt lịch chưa được rộng. Nếu khinh táo võng động mà không biết giới thận khủng cụ thời tội lỗi đến ngay. Chữ Kính chi ở Hào từ chính là một vị thuốc chữa bệnh táo tiến cho người đời vậy. Tượng viết: Lí thác chi kính, dĩ tị cựu dã. Đức kính trong lúc lí thác cốt để tránh điều lỗi lầm vậy. Tòng lai, tri bất minh thời hành bất thận. lí thác nhiên mà biết kính chi, nhân vì tường thẩm ở lúc tri mà khỏi sai suyễn ở lúc hành nên được vô cựu

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:黃離,元吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Hoàng li, nguyên cát. Lục Nhị ở hào tốt nhất trong quẻ Li, vị Nhị đã đắc trung, Lục cư Nhị lại đắc chính, ở vào thể Li lại có đức văn minh. Bản thân Nhị đã có đức văn minh trung chính mà trên ứng với Ngũ cũng văn minh trung thuận; minh được như thế mà sở lệ lại đúng như thế, thiệt tốt lớn không ai bằng, nên Hào từ nói rằng: Hoàng li, nguyên cát. Hoàng là sắc trung mà lại có vẻ đẹp, hình dung đức văn minh trung chính, Cửu Nhị sở lệ được đúng nên dùng chữ hoàng li.

Tượng viết: Hoàng li, nguyên cát, đắc trung đạo dã. Hoàng li sở dĩ nguyên cát, bởi vì được đạo chính trung vậy. Hào Nhị vẫn kiêm cả trung chính, nhưng không cần nói chính là bởi vì có Nhị mới thành ra Li, có trung mới thành được văn minh. Trung là chú trọng ở quẻ Li, chữ chính đã nuốt vào trong chữ trung

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:日昃之離,不鼓缶而歌,則大耋之差(一作嗟),凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Nhật trắc chi li, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại diệt chi ta, hung. Quẻ Li này hai thể thảy là tượng mặt trời, Cửu Tam ở về cuối cùng hạ thể, tượng là mặt trời ngày nay sắp lặn, mà mặt trời ngày mai chưa mọc lên nên nói rằng nhật trắc chi li. Trắc là mặt trời gần lặn; nhật trắc là buổi gần hoàng hôn. Tỉ dụ vào tâm lí người ta thời vật dục đã có hơi bịt bùng mà bản thể quang minh hầu đến ngày mờ mịt, người đến lúc ấy tất nhiên ăn ở không nhằm lẽ, ưu lạc thảy thất thường, khi không đáng vui mà vui, khi không đáng buồn mà buồn, chẳng đập trống mà hát thời khóc than vì già lẫn quá chừng.

Như thế chẳng hung còn gì nữa. PHỤ CHÚ: Đường Thi có câu: Ngô ca, Sở vũ hoan vị tất, Tây sơn dục hàm bán biến nhật. nghĩa là: Hát Ngô múa Sở dở dang, mặt trời đã nửa ngậm gương non Đoài. Lại có câu: Thương nữ bất tri vong quốc hận, cách giang do xướng Hậu Đình Hoa. (Con buôn biết nước mất đâu, Cách sông hát bướng mấy câu Hậu Đình). Cổ phẫu nhi ca ở hào này là nghĩa như thế. Trong sách Tả Truyện, Triệu Mạnh thấy bóng mặt trời chiếu mà than rằng: Buổi mai không kịp tính đến buổi hôm, có hơi sức gì chờ được năm năm.

Triệu Mạnh Thị Âm viết: Triêu tịch bất tương cập, thùy năng đãi ngũ. Đó chính là câu: Đại diệt chi ta, chữ bất với chữ tắc hô ứng với nhau nghĩa là chẳng vui tầm vơ thời buồn tầm bậy. Tổng chi, ưu lạc giai thất kì thường, hình dung một hạng người tâm tình hôn ám, không khác gì Li ở lúc nhật trắc. Tượng viết: Nhật trắc chi li, hà khả cửu dã. Li mà đụng lúc mặt trời đã xế rồi, thế là đức minh đã đến lúc hôn, còn lấy gì lâu đặng

Hào 4 — Cửu Tứ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九四:突如其來如,焚如,死如,棄如。

Phan Bội Châu chú giải:

Đột như, kì lai như, phần như, tử như, khí như. Cửu Tứ vượt qua quẻ dưới mà bắt đầu bước vào quẻ trên, chính vừa lúc tiền minh đã tắt mà hậu minh sắp sửa tới, đương thời đại ấy, nêu được người kế thừa cho tốt vẫn có nhịp hay. Nhưng Cửu Tứ thời trái hẳn, bản thân là dương cương, sẵn có tính táo mà lại ở vị Tứ, đã bất chính lại bất trung, thấy Lục Ngũ âm nhu ở trên mình, toan thả ngón cương cường của mình ra mà lăng bức Ngũ, tượng như thình lình chạy tới trước mặt Ngũ khí thế lồng loạt như toan đốt người.

Một người ở vào thời đại thừa kế mà láu táu vụng về, cương cường thủ họa như Cửu Tứ ấy, còn làm sao khỏi mình chết, chúng bỏ được đâu. Cửu Tứ tương tự như Đổng Trác ở đời Hán, Nguyễn Chỉnh ở triều Tây Sơn. Tượng viết: Đột như, kì lai như, vô sở dụng dã. Uy bức kẻ trên như Cửu Tứ thời thiên hạ không chốn nào dụng nó được vậy. Đột như, kì lai như là hình dung cách táo bạo, phần như là hình dung khí nóng sôi; vô sở dụng là kết quả phải tử khí

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:出涕沱若,戚嗟若,吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát. Lục Ngũ có đức văn minh của Li, sở xử lại đắc trung, vẫn sẵn có thể tốt, nhưng vì bản chất âm nhu, đứng vào chính giữa hai hào dương, trên ép dưới đẩy là mắc vào hoàn cảnh khó khăn, duy hào Ngũ có đức minh hết sức phòng ưu lự hoạn, sẽ chống chọi với hoàn cảnh nổi nên kết quả được tốt lành. Vậy nên Hào từ nói rằng: Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, nghĩa là: Lo sợ quá riết, tượng như nước mắt sụt sùi; tính nghĩ quá sâu, tượng như thở vắn than dài mà không nghỉ.

Lục Ngũ vẫn có đức đáng được tốt mà Hào từ chỉ tỏ ra một cách ưu cụ cũng chỉ vì thời thế bắt buộc nên thế ( Xuất thế, nghĩa là: nước mũi chảy ra; đà là có ý chảy dầm dề; thích nghĩa là lo hung; ta nghĩa là than thở). PHỤ CHÚ: Chữ ta ở hào Ngũ với chữ ta ở hào Tam tuy nghĩa đen in nhau, nhưng ta ở hào Tam là một hạng người mê mẩn tâm thần mà thở than, Ta ở hào Ngũ lại một hạng người tri cơ úy cụ mà thở than. Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, li vương công dã.

Lục Ngũ sở dĩ được cát, bởi vì cách sở lệ của Ngũ xứng được Vương công vậy

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:王用出征,有嘉折首,獲匪其醜,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Vương dụng xuất chinh, hữu gia, chiết thủ, hoạch phi kì xú, vô cựu. Thượng Cửu ở trên cùng Nhị thể trùng minh, mà lại bản chất dương cương, chính là cương minh đến cực điểm, có đức minh thời hay soi dọi, có đức cương thời hay quyết đoán. Vương giả nên dụng tài cương minh ấy để đi trừng ác trừ tà mà ra làm việc chinh phạt, thời tất có công tốt đẹp. Tuy nhiên, vì cương minh quá, sợ có khi dựa vào cách tàn bạo nên lại phải uy cho vừa đắc trung, hình cho vừa đúng tội, không nên quá tay, khi ra đánh giặc dẹp loạn, chỉ bắt lấy những tay khôi thủ mà thôi ( Chiết thủ: chỉ bắt những anh đầu bầy).

Còn như những phe tụi nó, chẳng qua là bị hiếp tùng thời ta chẳng bắt buộc nó làm gì ( Hoạch: bắt sống được; xú: loài tụi). Như thế thời vô cựu. Tượng viết: Vương dụng xuất chinh, dĩ chính bang dã. Vương giả dụng lấy tài đức Thượng Cửu: để xuất chinh, cốt để trì ác cho thiên hạ, chính lí được bang quốc là thôi. Chinh, nguyên có nghĩa là chính. Mạnh Tử có câu: Chinh chi vi ngôn chính dã, nghĩa là: Chinh được những hạng người bất chính ấy là chính. Từ đây sắp lên, cộng ba mươi quẻ là dịch xong Chu Dịch Thượng Kinh

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thuần Ly là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Thuần Ly Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 30 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thuần Ly Là Gì?

Thượng quái là Ly, tượng lửa; hạ quái là Ly, tượng lửa. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 離: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thuần Ly. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 29: Thuần Khảm · Quẻ 31: Trạch Sơn Hàm

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline