Quẻ Lôi Phong Hằng (恒) là quẻ số 32 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Chấn (sấm), hạ quái là Tốn (gió). Hằng nói về bền lâu. Lời Thoán nối sự bền với sự vận hành và tiếp nối; bền không đồng nghĩa giữ nguyên mọi biểu hiện bên ngoài bất chấp thời và vị.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Lôi Phong Hằng Là Gì?
| Số thứ tự | 32/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Lôi Phong Hằng — 恒 |
| Thượng quái | Chấn — Sấm |
| Hạ quái | Tốn — Gió |
| Hào dương | 3 |
| Hào âm | 3 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Tốn, ba hào sau tạo thượng quái Chấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Lôi Phong Hằng
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
恆:亨,无咎。利貞,利有攸往。
Nguyên Văn Thoán Truyện
恆,久也。剛上而柔下,雷風相與,巽而動,剛柔皆應,恆。恆亨无咎,利貞;久于其道也,天地之道,恆久而不已也。利有攸往,終則有始也。日月得天,而能久照,四時變化,而能久成,聖人久于其道,而天下化成;觀其所恆,而天地萬物之情可見矣!
Nguyên Văn Đại Tượng
雷風,恆;君子以立不易方。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Chấn trên; Tốn dưới Quẻ này là quẻ Lôi Phong Hằng. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Lôi Phong Hằng. TỰ QUÁI Tự quái: Phu phụ chi đạo, bất khả dĩ bất cửu dã, cố thụ chi dĩ Hằng. Ý sắp đặt thứ tự quẻ, sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là vì cớ sao? Trước kia quẻ Hàm là nam nữ cảm nhau mới thành được phu phụ. Khi đã thành phu phụ rồi tất phải tính cách lâu dài, lâu dài mà không đổi, ấy là phu phụ chi đạo.
Vậy nên sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng. ( Hằng, nghĩa là lâu dài). Quẻ Hàm thời thiếu nam hạ ở thiếu nữ là hai người trai gái còn đương trẻ tuổi mà cảm duyệt với nhau. Đã cảm duyệt nhau, tất thành được phu phụ. Khi đã thành phu phụ rồi thời hai người trai gái kia đã tới kì khôn lớn mà thành trưởng nam, trưởng nữ; trưởng nam là chồng, trưởng nữ là vợ. Chồng chù trương việc ngoài, vợ chủ trương việc trong, nam cương ở trên, nữ nhu ở dưới. Đó là lẽ thường của phu phụ. Quẻ này Chấn trưởng nam ở quẻ ngoài quẻ trên, Tốn trưởng nữ ở quẻ trong quẻ dưới, rất hợp với đạo phu phụ lâu dài, nên đặt tên bằng quẻ Hằng.
SOÁN TỪ Hằng, hanh, vô cựu, lị trinh, lị hữu du vãng. Chữ Hằng nguyên có hai nghĩa: Một là không thay đổi, tức là bất dịch; một là không thôi nghỉ, tức là bất dạ. Hễ người ta làm việc gì, tất có đạo lí việc ấy. Xét đã đúng với đạo lí rồi, tất phải giữ cho được lâu dài và lại hữu thường mà không thay đổi, như thế thời được hanh thông mà không tội lỗi. Tuy nhiên, đạo lí có mặt chính có mặt phản. Theo về mặt đạo lí chính thời hằng cửu là hay, theo về mặt đạo lí phản thời hằng cửu là dở, nên Hào từ lại răn cho rằng: Lị trinh, nghĩa là nên hằng cửu với việc chính, chớ hằng cửu với việc tà.
Nếu hay hằng cửu với việc chính là hằng cửu bằng cách quân tử, thời có tiến hành việc gì chắc có thành công. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Hằng, cửu dã. Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dữ, tốn nhi động, cương, nhu giai ứng, Hằng. Hằng hanh, lị trinh, vô cựu, cửu ư kì đạo dã, Thiên địa chi đạo, hằng cửu nhi bất dĩ dã, Lị hữu du vãng, chung tắc hữu thỉ dã. Nhật nguyệt đắc thiên nhi năng cửu chiếu, tứ thì biến hóa nhi năng cửu thành. Thánh nhân cửu ư kì đạo nhi thiên hạ hóa thành.
Quan kì sở hằng nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ. Soán viết: Hằng cửu dã. Hằng, nghĩa là trường cửu. Theo mặt chữ của chữ Hằng, bên tả là chữ tâm, bên hữu chữ nhất và chữ nhật, ý nghĩa là lập tâm thường mãi mãi như một ngày. Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dữ, tốn nhi động, cương, nhu giai ứng, Hằng. Nguyên hào Sơ cương quẻ Càn đổi cho Khôn mà lên ở hào Tứ. Nguyên hào Sơ nhu của Khôn thay cho Càn mà xuống ở hào Sơ. Đó là cương thượng nhi nhu hạ.
Chấn vi Lôi, Tốn vi Phong. Chấn, Tốn hợp nhau thành một quẻ, tượng là sấm gió giúp thế lực cho nhau. Đó lại là lôi phong tương dữ. Tốn có tính thuận, Chấn có tính động, trước Tốn mà sau Chấn. Thế là thuận với đạo lí mà động. Vì thuận mà động nên thường trường cửu được. Lại theo như thể quẻ, ba hào cương, ba hào nhu, thảy ứng với nhau. Đó là cương, nhu tương ứng. Góp cả bốn câu như trên đây, tất thảy có đạo lí mà hàng cửu được nên đặt tên quẻ bằng Hằng. Hằng, hanh, lị trinh, vô cựu, cửu ư kì đạo dã.
Quái từ nói rằng: Hằng hanh, vô cựu, lị trinh là lâu dài ở đạo chính vậy. (Chữ kì đây là đại danh từ, thay chữ trinh; kì đạo là đạo trinh chính). Thiên địa chi đạo, hằng cửu nhi bất dĩ dã. Tiếp lấy chữ đạo trên mà nói rộng ra, chẳng những nhân sự mà thôi đâu, dầu đến rất to lớn như đạo trời đất cũng chỉ vì có đạo chính mới hay hằng cửu mà không thôi. Tỉ như mùa hạ thường nóng, mùa đông thường lạnh, núi thường cao, sông thường sâu, đó là chính lí của trời đất cứ thường thường hoài.
Dầu có khi gió dữ mưa cuồng, sóng sôi núi lở, chỉ là lẽ biến hóa trời đất, đã biến hóa tức là bất trinh, đã bất trinh tất không thường được nên nói rằng: Trời đất cũng phải trinh thời mới hằng được. Lị hữu du vãng, chung tắc hữu thỉ dã. Đây lại nói thâm nghĩa chữ Hằng cho đủ cả lẽ thường, lẽ biến. Hằng vẫn là lâu dài, nhưng sở dĩ lâu dài tất phải có thể có dụng. Thể vẫn thường mà dụng thời có biến. Ở trong một thì gian lâu dài, cái lẽ tuần hoàn thiên chuyển, không một phút nào dừng, biến động đã đến lúc cuối cùng thời lại xoay lại như lúc bắt đầu.
Mỗi một lần chung thời lại có một lần thỉ. Theo như Dịch lí cùng thời biến, biến thời thông, thông thời lâu dài, như thế mới hằng được. Hằng chẳng phải là chết trơ một bề đâu. Tỉ như: Việc nhà làm ruộng, hạ mộng là thỉ, trung gian cày bừa cấy gặt, tới khi gặt tức là chung. Gặt xong rồi thời lại có lúa mà hạ mộng. Vì có được lúa mới có mộng mà hạ lại. Đó là chung tắc hữu thỉ. Vì chung thỉ tuần hoàn mãi mãi, mới nên được Hằng. Một việc như thế, muốn việc cũng như thế.
Thể vẫn thường mà dụng thời biến luôn luôn. Trên kia đã nói cửu ở kì đạo, đây lại nói: Chung tắc hữu thỉ, động tĩnh tương sinh, nhân quả tương tục, có như thế, mới là Dịch lí. Nhật nguyệt đắc thiên nhi năng cửu chiếu, tứ thì biến hóa nhi năng cửu thành, thánh nhân cửu ư kì đạo nhi thiên hạ hóa thành. Quan kì sở hằng nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ. Đây lại nói cho đến cùng cực đạo Hằng, mặt trời mặt trăng cứ thuận theo đường lối thiên nhiên mà hay soi dọi không bao giờ cùng.
Bốn mùa hay biến hóa luôn luôn, đông thay sang xuân, xuân thay sang hạ, hạ thay sang thu, thu thay sang đông; rét nắng, ấm lạnh, khí hậu trao đổi cho nhau, mới hay nên được công việc hàng năm mà không bao giờ cùng. Đó là theo về phần thiên đạo. Thánh nhân cũng in như nhật nguyệt tứ thì mà làm đạo hằng cửu, tác dụng vẫn tùy thì biến đổi mà bản thể vẫn không bao giờ trái lầm, thiên hạ nhờ đó mà làm nên văn hóa tốt. Xem ở nhật nguyệt tứ thì sở dĩ thường, đạo thánh nhân sở dĩ lâu mà chân tình của thiên địa vạn vật có thể thấy được.
PHỤ CHÚ: Chữ Dịch với chữ Hằng có nghĩa tương đối. Nếu tuyệt đối Dịch thì không làm sao ra Hằng, nếu tuyệt đối Hằng, cũng không làm sao ra Dịch được. Vũ trụ cổ kim không một giống gì là tuyệt đối. Tỉ như ban ngày sáng, tất nhiên có ban đêm tối; nếu tuyệt đối sáng hay tuyệt đối tốt, tất không thành được thiên tượng ở không gian. Mùa hạ nóng, tất nhiên có mùa đông lạnh; nếu tuyệt đối nóng hay tuyệt đối lạnh, tất không thành được tuế công ở thì gian. Nhỏ từ thân một người, khi ngủ có khi thức, khi sống có khi chết; lớn hơn đến xã hội, thế giới, loạn lâu ngày phải trị, thịnh lâu ngày phải suy, cũng chỉ là tương đối thay đổi nhau, không thấy một giống gì là tuyệt đối.
Vậy nên trong đạo Dịch, vì Hằng mà phải có Dịch, cũng nhân Dịch mới làm nên Hằng. Thánh nhân sợ người ta câu nệ ở chữ Hằng mà quên mất diệu lí ở chữ Dịch. Vậy nên, Soán Truyện phải lấy tứ thì biến hóa mà thuyết minh đạo Hằng. Học giả thể nhận cho ra đạo lí ấy thời biết Dịch với Hằng là tương thành mà không phải tương phản. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Lôi phong Hằng, quân tử dĩ lập bất dịch phương. Theo ở tượng quẻ, Chấn là Lôi, Tốn là Phong, sấm gió đồng thì phát hiện, thành ra quẻ Hằng.
Quân tử xem tượng ấy thời biết rằng: Công việc trời đất tuy có lúc biến động mà đạo trời đất thời vạn cổ y nhiên. Quân tử bắt chước thế thời cuộc đời bể đâu, tình người nóng lạnh, có thay đổi mặc dầu mà đạo tự lập của quân tử thời không bao giờ thay đổi. Lập bất dịch phương, ấy tức là Hằng của quân tử. PHỤ CHÚ: Mạnh Tử có nói rằng: Khổng Tử thánh chi thì giả dã. nghĩa là: Thì nên ra mà ra, thì nên ẩn mà ẩn, thì nên lâu mà lâu, thì nên chóng mà chóng.
Theo như nghĩa chữ thì đó, so với câu “lập bất dịch phương” chẳng mâu thuẫn hay sao? Không phải đâu, “thánh chi thì” với “lập bất dịch phương” chỉ là một gốc mà không phải hai rễ. Thánh chi thì là về phần tác dụng, lập bất dịch phương là về phần nguyên tắc. Tỉ như: Tấm gương sáng treo ở một chốn, cái bản thể quang minh không bao giờ thay đổi, chẳng phải là lập bất dịch phương hay sao? Đến gặp lấy sự vật gì soi dọi vào, mới hiện ra tác dụng của mặt gương, tùy tròn mà hiện ra tròn, tùy vuông mà hiện ra vuông, tùy đẹp mà hiện ra đẹp, tùy xấu mà hiện ra xấu, chẳng phải là thì nghĩa hay sao?
Chúng ta đọc Dịch cần nhất là phải biết biến hóa.Ông Tô Đông Pha có câu rằng: Cứ xem ở giữa chốn biến, thời tuy trời đất e cũng không được một giây phút, nhưng xem ở chốn bất biến, thời người với ta thảy không bao giờ hết. Tự kì biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn; tự kì bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận hĩ
Sáu Hào Của Quẻ Lôi Phong Hằng
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:浚恆,貞凶,无攸利。
Phan Bội Châu chú giải:
Tuấn hằng, trinh hung, vô du lị. Sơ Lục ở dưới hết quẻ Hằng mà làm chính ứng với hào Tứ, đó là lẽ thường, nhưng người ta ở đời tất phải biết thường mà lại biết biến. Địa vị Sơ quá thấp mà địa vị Tứ quá cao. Huống gì Tứ là dương cương, chỉ trông lên mà không ngó xuống, trung gian lại bị hào Nhị, hào Tam gián cách. Sơ đương lúc bởi mới, lại phận thấp hèn mà toan yêu cầu với Tứ bằng một cách quá thân mật. Thế là nệ cách thường quá chừng sâu nên nói rằng: Tuấn hằng.
Tuấn nghĩa là sâu; tuấn hằng nghĩa là quá sâu ư nệ thường, nệ thường mà không biết biến, té ra thành một người ngu. Nếu cứ kiên cố giữ một cách ấy, tất mắc lấy hung nên nói rằng: Trinh hung. Chữ trinh ở đây, chỉ có nghĩa trinh là bền chặt, không phải nghĩa trinh là chính. Bền chặt bằng một cách tuấn hằng thời chẳng những một lúc xấu mà thôi mà lại không làm gì được thuận lợi cả. Người xưa có câu rằng: Giao thiển nhi ngôn thâm, nhục chi đạo dã, nghĩa là giao tình còn đương cạn mà cầu thỉnh quá chừng sâu, chỉ là cái đường lốì đi tới nhục vậy.
Câu này cũng tương tự như hào Sơ này. Tượng viết: Tuấn hằng nhi hung, thỉ cầu thâm dã. Có hung họa vì tuấn hằng mà nảy ra, bởi vì lúc đầu mới giao mà cầu vọng đã quá thâm thời thế nào cũng thất bại vậy. PHỤ CHÚ: Đời Hán như Giả Nghị mới bước chân lên triều mà toan đuổi các công thần như Giáng Quán; đời Đường như ông Lưu Bồn mới đỗ Tiến sĩ mà vội xin với vua Đường toan đánh đổ Phiên trấn, chính là đúng với câu: Tuấn hằng chi hung, thỉ cầu thâm dã
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:悔亡。
Phan Bội Châu chú giải:
Hối vong. Hào Cửu ở vị Nhị là dương cương ở âm vị, trái mất lẽ thường. Theo như nghĩa Hằng vẫn nên hữu hối, nhưng vì Nhị có đức trung ứng với Ngũ, mà Ngũ cũng có đức trung. Lấy đức trung mà ứng với đức trung, thế là hay hằng cửu ở đạo trung thời tất không việc gì phải ăn năn, nên Hào từ chỉ nói rằng: Hối vong. Tượng viết: Cửu Nhị, hối vong, năng cửu trung dã. Cửu Nhị sở dĩ được hối vong, bởi vì hay hằng cửu ở đạo trung mà thôi. PHỤ CHÚ: Dịch lí rất chú trọng chữ trung mà Hằng là rất quý trọng chữ trung lắm.
Bởi vì Hằng là thường lâu, nếu bất trung thời không thường lâu được. Vô luận làm việc gì, nếu thái quá hoặc bất cập, tất không được lâu dài, duy có đắc trung mới được lâu dài, nên Tượng Truyện lấy ba chữ “Năng cửu trung” để xuất ở Cửu Nhị, thời biết rằng những hào bất trung, tất thảy là bất cửu
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:不恆其德,或承之羞,貞吝。
Phan Bội Châu chú giải:
Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi tu, trinh, lẫn. Dương hào ở vào dương vị vẫn là đắc chính, nếu thường giữ lấy đức chính của mình thời không gì đến nỗi xấu. Nhưng Tam này thời trái hẳn, quá cương bất trung mà lại toan len lỏi vào đòi với Thượng Lục, đó là bỏ đức cương chính của mình mà theo đòi với bạn âm nhu của người, nên hằng mà không biết hằng, tự thủ vẫn đã không xong mà e có lẽ người khinh bỉ tới nơi, nên nói rằng: Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi tu. Tu, nghĩa là xấu hổ; thừa, nghĩa là bưng đưa tới; hoặc là nghi từ, có ý là thờ ơ.
Hoặc thừa chi tu nghĩa là e có người dâng đưa việc xấu hổ cho Tam. Tư cách một người như Cửu Tam thời dầu có chính chăng nữa, cũng đáng xấu hổ mà thôi. Bởi vì chính mà bất hằng thế là bỏ mất chính, nên nói rằng Trinh lẫn. Trinh có bao giờ lẫn đâu, vì trinh mà bất hằng mỗi lẫn. Tượng viết: Bất hằng kì đức, vô sở dung dã. Người đã bất hằng kì đức, rày trắng mai đen, sớm nóng, tối lạnh, hạng người ấy còn chốn nào dụng thân được nữa rư? PHỤ CHÚ: Lời hào này nên tham khảo với lời Đức Khổng trong Luận Ngữ: Nhân nhi vô hằng, bất khả dĩ tác vu y.
Nghĩa là: Người mà đã không đức thường thời đầu làm một nghề thầy đồng bóng, thầy thuốc, cũng không thể làm mà nuôi thân được, đó thiệt là vô sở dung
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:田无禽。
Phan Bội Châu chú giải:
Điền vô cầm. Hào dương ở vị âm là xử trái mất bản vị của mình mà còn toan lân ở chốn đó, dầu có lân chăng nữa chắc cũng chẳng nên việc gì, tượng như người đi săn mà không được cầm thú, chỉ hao tổn tâm lực mà không thành công. Tượng viết: Cửu phi kì vị, yên đắc cầm dã. Hễ người ở đời, tất phải xử cho đúng bản vị của mình, dương cương mà ở vị âm nhu Thế là cửu phi kì vị đó rồi làm sao mà còn được cầm nữa rư? Chữ yên cũng như nghĩa chữ hà yên đắc, nghĩa là thế nào được.
Chữ cầm chỉ thí dụ bằng có thành công. PHỤ CHÚ: Cửu Nhị với Cửu Tứ cùng là xử phi kì vị cả, nhưng Nhị đắc trung thời được tốt, Tứ bất trung thời kết quả xấu; mới biết trung thời mới hằng được
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:恆其德,貞,婦人吉,夫子凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Hằng kì đức, trinh, phụ nhân, cát, phu tử, hung. Lục Ngũ ứng với Cửu Nhị, bản thân là âm nhu cư trung mà ứng với Cửu Nhị dương cương cũng cư trung, nên cử một mực thuận tòng từ đầu đến cuối. Thế là có đức lâu dài mà được trinh chính. Tuy nhiên, trong đạo làm người, tất cốt trước có đức dương cương mà âm nhu chỉ là phụ trợ mà thôi. Nếu một mực âm nhu mà chỉ thuận tòng với dương cương, theo về lối thường ví dầu đàn bà như thế thời cũng được cát. Nhược bằng trượng phu mà chỉ âm nhu thuận tòng, hằng cửu bằng một cách phụ nhân thời là xấu lắm.
Hào này ở về quẻ khác thời không lấy gì làm xấu hổ, nhưng ở về thời đại Hằng, hằng nhu thời kém về phần chấn tác, hằng thuận thời không phải là tài hữu vi. Vì vậy, Hào từ đã nói hằng kì đức, trinh mà lại nói phu tử hung. Đó lại là một nghĩa tùy Thì trong Dịch. Tượng viết: Phụ nhân trinh cát, tòng nhất nhi chung dã, phu tử chế nghĩa, tòng phụ hung dã. Hễ đạo người dàn bà thời chỉ theo một người chồng cho đến cuối cùng nên lấy chữ trinh làm cát. Còn như người đàn ông thời tự mình chế ra nghĩa, nghĩa nên theo thời theo, nghĩa không nên theo thời bỏ.
Nếu cứ thuận tòng như phụ nhân thời hung. PHỤ CHÚ: Tượng Truyện ở đây phát minh thêm hai chữ chế nghĩa rất có ý vị. Phụ nhân thời bảo cho phải tòng nhất chi chung, bởi vì những hạng người phụ nữ, phần nhiều là tri thức non, nghị lực kém, không thể nào chế ra được nghĩa, thời âu là tòng nhất nhi chung cũng đã là người tốt rồi. Nếu tự mình đã là trượng phu thời nên phải tri thức cho cao, biến thông cho hoạt, tùy thì mà chế nên nghĩa. Tỉ như: Nghĩa nên quân chủ thời ta thờ vua, nghĩa nên dân chủ thời ta thờ dân, nghĩa nên thờ quốc gia thời ta thờ quốc gia, nghĩa nên thờ xã hội thời ta thờ xã hội.
Chế ra nghĩa cho hợp với thì, há phải tòng nhất nhi chung mà thôi đâu. Đức Khổng Tử có câu: Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ. Quân tử chí ở việc trong thiên hạ, không cái gì là nhất định phải mà theo hoài, không cái gì là nhất định trái mà cự hoài, chỉ duy cho đúng với thì nghĩa thời ta làm theo. Mạnh Tử cũng có câu rằng: Đại nhân giả, ngôn bất tất tín, hạnh bất tất quả; duy nghĩa sở tại. Hễ những người có tài đức lớn mà gọi bằng đại nhân, chẳng phải nói điều gì cũng nhất định phải tin, chẳng phải làm việc gì cũng nhất định quả quyết, chỉ duy cân nhắc ở nơi nghĩa, nghĩa ở chốn nào thời ta theo đó mà nói, mà làm.
Mấy câu nói ấy, rất hợp với lối chế nghĩa; nghĩa chữ chế đây có ý như nghĩa chế tạo, chế tác; tục ta thường nói chế canh hay rượu, v.v. cũng có ý như thế. Nhưng mà hạng người chế nghĩa, tất phải tri thức cho cao, học vấn cho giàu, lịch duyệt cho sâu; nếu không phải bậc thánh nhân chưa chắc đã chế được nghĩa. Vậy nên học giả nhận cho kĩ
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:震(一作振)恆,凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Chấn hằng, hung. Chấn, nghĩa là động rất mau, có ý là láu táu, lau chau. Thượng Lục ở cuối cùng thể Chấn là động chi cực, lại ở cuối cùng thì Hầng là đã đến buổi bất thường; ở vào buổi bất thường mà lại sẵn có tính động cực, chỉ dùng bằng cách lắc xắc, lau chau, Thượng Cửu như thế mà không chịu yên. Lẽ trong thiên hạ khi nên động mà động, khi nên tĩnh mà tĩnh, có lẽ gì Thượng Cửu bằng một cách táo động mà khỏi tai họa được rư. Tượng viết: Chấn hằng tại thượng, đại vô công dã.
Ở trên hết quẻ, chính là hạng người ở trên, đã ở trên người mà chỉ thường táo động, tất đến nỗi thất bại hung vậy. Hễ việc trong thiên hạ, thuận thì, tòng lí mà làm thời việc gì cũng xong. Trái lại, nghịch thì, bội lí mà làm bướng, động càn thời chỉ là làm tai họa cho thiên hạ. Thiên hạ bản vô sự, dung nhân tự nhiễu chi chính là lẽ ấy
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Lôi Phong Hằng là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Lôi Phong Hằng Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 32 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Lôi Phong Hằng Là Gì?
Thượng quái là Chấn, tượng sấm; hạ quái là Tốn, tượng gió. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 恒: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Lôi Phong Hằng. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 31: Trạch Sơn Hàm · Quẻ 33: Thiên Sơn Độn


Hotline