Quẻ Thiên Sơn Độn (遯) là quẻ số 33 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Càn (trời), hạ quái là Cấn (núi). Độn nói về lui tránh. Quẻ phân biệt việc lui có nguyên tắc với tình thế bị ràng buộc hoặc không thể lui một cách thích hợp; đó là cách giữ mình trong quan hệ với thời thế.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Thiên Sơn Độn Là Gì?
| Số thứ tự | 33/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Thiên Sơn Độn — 遯 |
| Thượng quái | Càn — Trời |
| Hạ quái | Cấn — Núi |
| Hào dương | 4 |
| Hào âm | 2 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Cấn, ba hào sau tạo thượng quái Càn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thiên Sơn Độn
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
遯:亨。小利貞。
Nguyên Văn Thoán Truyện
遯亨,遯而亨也。剛當位而應,與時行也。小利貞,浸而長也。遯之時義大矣哉!
Nguyên Văn Đại Tượng
天下有山,遯;君子以遠小人,不惡而嚴。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Kiền trên; Cấn dưới Quẻ này là quẻ Thiên Sơn Độn. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Càn thượng cũng là Ngoại Càn. Càn thiên, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Sơn Độn. TỰ QUÁI Tự quái: Hằng giả cửu dã, vật bất khả dĩ cửu cư kì sở, cố thụ chi dĩ Độn. Độn giả thối dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Hằng tiếp lấy quẻ Độn là vì cớ sao? Hằng, nghĩa là thường lâu. Hễ vật gì không vật gì ở lâu được mãi một chốn. Hễ ở lâu tất phải tránh lui nên sau quẻ Hằng tiếp lấy quẻ Độn.
Độn nghĩa là tránh lui. Theo về tượng quẻ, Càn thượng là thiên, Cấn hạ là sơn. Sơn là giống hữu hình chỉ đứng ở một chốn, thiên là khí dương, cũng là không khí, thường tiến lên hoài. Bây giờ thiên hạ hữu sơn là có tượng trái nhau mà phải tránh nhau nên lấy nghĩa bằng Độn; vả lại, quẻ này là quẻ thuộc về tháng Sáu, nhị âm sinh ở dưới, toan lùa đuổi tứ dương ở trên, tiểu nhân đạo trưởng, quân tử đạo tiêu nên lúc đó quân tử phải xa lánh. Vì vậy nên đặt tên quẻ bằng Độn.
PHỤ CHÚ: Hằng là cửu, Độn là lui, đã cửu thời phải lui; đêm tới thời mặt trời phải lui; Xuân tới thời Đông phải lui, chính là lẽ ấy. Việc người cũng vậy, quan đến già thời nên hưu, khách ngồi lâu thời phải dậy. Tục ngữ Tàu có câu: Thiên hạ vô bất tán đích diên tịch, nghĩa là trong thiên hạ không cỗ tiệc nào nhóm mãi mà không tan; lời nói ấy tuy tầm thường, nhưng hợp với lẽ Hằng rồi thời Độn. SOÁN TỪ Độn hanh, tiểu lị trinh. Quẻ này là quẻ âm trưởng, dương tiêu. Thế lực quân tử không đủ kình địch nổi tiểu nhân nên kiến cơ tảo thối, thân mình tuy là độn mà đạo mình như thế mới là hanh.
Tuy nhiên, thì cơ mỗi phút mỗi khác, có khi nên nóng nảy, nhưng cũng có khi nên khoan thai. Quẻ này tuy âm trưởng đã đến hai âm, nhưng bè quân tử hãy còn có bốn dương. Nếu khéo lựa thì lựa cơ, tuy không được đại hữu vi, nhưng mà tiểu tiểu cán hồi, thiện xử với tiểu nhân, dầu không làm được đại trinh nhưng còn lị ở tiểu trinh vậy. Tiểu lị trinh nghĩa là trinh bằng việc lớn vẫn không lị, mà trinh bằng việc nhỏ cũng còn có lị. PHỤ CHÚ: Soán từ quẻ Độn nên tham khảo với Soán từ quẻ Bĩ, vì quẻ Bĩ là tam âm tịnh tiến nên Soán từ nói rằng: Bất lị quân tử trinh, thiệt là đau đớn cho quân tử.
Độn thời mới có nhị âm nên Soán từ nói rằng: Tiểu lị trinh là còn chút hi vọng cho quân tử. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Độn hanh, độn nhi hanh dã, cương đương vị nhi ứng, dữ thì hành dã, tiểu lị trinh, tẩm nhi trưởng dã, Độn chi thì nghĩa đại hĩ tai. Soán viết: Độn hanh, độn nhi hanh dã. Quái từ rằng: Độn hanh, nghĩa là thân quân tử tuy thối mà đạo quân tử vẫn hanh vậy. Cương đương vị nhi ứng, dữ thì hành dã. Ở đây chỉ lấy một hào Cửu Ngũ thích nghĩa chữ Hanh, Cửu Ngũ dương cương ở vào vị trung chính mà ở dưới có Lục Nhị cũng trung chính mà ứng với nhau.
Tuy ở vào thì âm trưởng nhưng có đức dương cương như thế và có vị trung chính như thế mà lại có bạn trung chính như thế, bản thân Ngũ lại là một bậc lãnh tụ trong tứ dương thời nên hết sức hết lòng phù trì thế đạo, chờ ngày nào đáng thối tàng thời sẽ thối tàng. Dữ thì hành dã nghĩa là rình ở thì cơ mà làm công việc mình thời có lẽ hanh. Tiểu lị trinh, tẩm nhi trưởng dã. Sở dĩ lị ở tiểu trinh bởi vì âm còn dần dần mà trưởng chưa trưởng gấp liền, nếu quân tử khéo tay, càn toàn, thời nhưng việc tiểu trinh hãy còn làm được.
Độn chi thì nghĩa đại hĩ tai. Thì nghĩa ở quẻ Độn, thánh nhân sở dĩ tán rằng đại hĩ tai bởi vì quân tử xử vào thì Độn, tiểu nhân tuy tiến mà chưa đến như Bĩ, Bác, quân tử tuy suy mà hãy còn có tứ dương, nghĩa là xử thì Độn, bảo rằng nên lui chưa phải là tuyệt đối nên lui; bảo rằng không nên lui, cũng không phải tuyệt đối không nên lui. Khi ấy, chỉ nên có cặp mắt xem thì cho chắc chắn, thủ đoạn tùy thì cho lanh nhạy, thì quả đã nên lui thời ta lui ngay, thì nếu có thể làm được thời ta tùy cơ chuyển bát, cũng chưa phải vạn bất khả vi.
Vậy nên trên kia đã nói dữ thì hành dã, đây lại nói thì nghĩa đại hĩ tai. Nghĩa chữ thì ở đây chỉ nói riêng về thì quẻ Độn. Ở thì Độn mà chỉ một cách thối tàng đó là lẽ đang nhiên không cần phải nói; duy ở thì Độn mà còn tìm một cách toàn chuyển phù trì, thì nghĩa được như thế mới là to lớn. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Thiên hạ hữu sơn, Độn. Quân tử dĩ viễn tiểu nhân, bất ác nhi nghiêm. Thiên thể vô cùng, sơn cao hữu hạn, chúng ta ở dưới núi thời thấy trên đỉnh núi là trời, đến lên tới đỉnh núi thời trời lại mênh mù ở đâu không thể với tới, thành ra tượng Độn.
Quân tử xem tượng ấy mà học làm cách xa tránh đứa tiểu nhân, mình cứ lo giữ mình cho trong sạch, không đem những ác thanh, nộ sắc đối đãi với nó, chỉ khiến nó thấy mình uy nghiêm trang kính mà thôi. PHỤ CHÚ: Chỉ bốn chữ bất ác nhi nghiêm mà cách đối đãi với tiểu nhân thiệt là hoàn thiện. Bất ác là thuộc về hình thức, nhi nghiêm là thuộc về tinh thần. Đối đãi với tiểu nhân phải có một cách tỏ ra tinh thần bất khả phạm nhưng không nên đem ác thanh, ác sắc mà đối đãi với nó.
Khổng Tử đối đãi với Dương Hóa, Mạnh Tử đối đãi với Vương Hoan, chính là nghĩa ấy
Sáu Hào Của Quẻ Thiên Sơn Độn
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:遯尾,厲,勿用有攸往。
Phan Bội Châu chú giải:
Độn vĩ, lệ, vật dụng hữu du vãng. Theo về cách xem quẻ thời hào trên hết là đầu, hào dưới hết là đuôi. Sơ Lục ở dưới hết quẻ, chính đương vào bộ vị đuôi, đuôi là ở sau hết. Người ta vừa hồi Độn, ai nấy cũng đã độn trước rồi, anh Sơ vì chất Nhu tính ám, không độn theo kịp người mà lại còn rù rờ ở sau. Thế là độn vĩ. Độn mà chậm trễ đến thế, tất nhiên nguy. Người ta xử vào địa vị Sơ Lục chỉ nên tránh nép coi thì, chớ nên tiến hành những việc gì.
Tượng viết: Độn vĩ chi lệ, bất vãng, hà tai dã. Độn ở sau người, vẫn có lẽ nguy, nhưng nếu biết nguy mà nấp nép, không tiến vãng, ở đâu thời cũng không tai họa gì
Hào 2 — Lục Nhị
Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六二:執之用黃牛之革,莫之勝說。
Phan Bội Châu chú giải:
Chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách, mạc chi thắng thoát. Ở vào thì Độn vẫn là nên Độn, nhưng vì Lục Nhị là chính ứng với Cửu Ngũ, có tượng là quân thần tương đắc, hai bên thảy có đức trung chính kết hợp với nhau, khăng khít bền chặt bằng một cách trung chính hòa thuận, tượng như trói buộc nhau bằng da trâu vàng mà không thể nào mở lột được. Chấp, nghĩa là trói buộc; hoàng là sắc trung; ngưu là giống có tính thuận; cách là dày bằng da. Hoàng ngưu chi cách là thí dụ bằng đức trung thuận của Lục Nhị; mạc chi tha71ng thoát là nói giao kết rất bền chặt, vì ở địa vị Lục Nhị mà lại chính ứng với Cửu Ngũ, nghĩa không thể bỏ Ngũ mà đi, nên Hào từ không nói chữ Độn.
Tượng viết: Chấp dụng hoàng ngưu, cố chí dã. Chấp dụng hoàng ngưu là chỉ hào Nhị với hào Ngũ rất kiên cố, vì đạo nghĩa mà không dám độn. Xưa ông Cơ Tử đương hồi âu vong, ông giả cuồng làm nô mà nói rằng: Ngã bất cố hành độn, chính đúng ý Hào từ này
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:係遯,有疾厲,畜臣妾吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Hệ độn, hữu tật lê, súc thần thiếp, cát. Cửu Tam dương cương ở gần hào Nhị là âm nhu, dương hay bìu ríu với âm, Tam ở gần Nhị nên bìu ríu với Nhị. Quân tử ở thời đại Độn, lẽ nên độn cho chóng và xa. Bây giờ bìu ríu vì tư tình thời không thể độn cho chóng được, chỉ làm hại cho độn mà thôi. Thế là nguy rồi. Hệ nghĩa là bìu ríu bằng tư tình. Tuy nhiên, tư tình bìu ríu đó, không phải là tuyệt đối không chốn hay đâu. Nếu đối đãi với bậc người quân tử hay đối đãi với hạng tiểu nhân thời vẫn không được, nhưng đụng khi nuôi bọn thần thiếp là hạng người mà mình có quyền sai sử thời dầu có tư tình bìu ríu, nhưng mua được lòng vui của nó mà lị được công việc cho mình, cũng có thể tốt lành được.
Tượng viết: Hệ độn chi lệ, hữu tật bái dã, súc thần thiếp cát, bất khả đại sự dã. Ở vào thì Độn vẫn nên cao bay xa chạy, bây giờ vì hệ độn mà đến nỗi hữu tật, tất nhiên nguy khốn ( Bái nghĩa là khốn, tức là chữ lệ ). Tuy nhiên, Độn đã không được lanh chóng mà cũng không thể làm nên việc gì lớn thời chỉ duy lấy cái lòng tư ái đó, dụng vào việc súc dưỡng thần thiếp là việc rất nhỏ mọn còn có thể cát, còn ngoài ra những việc gì lớn, quyết không đem cách tư tình mà làm được đâu.
PHỤ CHÚ: Hào từ này cũng có nghĩa là: quyền biến trong Kỉnh Dịch. Như ông Thái Tùng Pha lúc đầu nước Trung Hoa lập thành dân quốc, ông đương làm Đô đốc tỉnh Vân Nam, vì Viên Thế Khải muốn phản dân quốc, xưng hoàng đế, biết ông là người đảng cách mệnh nên triệu ông lên Bắc Kinh; nếu ông không lên thời đem quân đánh. Lúc đó, thế lực ông chưa đủ chống Viên nên ông phải nín nhịn mà lên Bắc Kinh. Viên giữ ông lại ở Kinh, cho ông làm thượng tướng quân, nhưng không cho coi việc binh, Viên lại thường ngày phái mười hai viên trinh thám, chuyên một việc canh lén rình giữ ông.
Ông vẫn muốn có cơ hội trốn Viên, chờ hai năm tròn, hết sức kín đáo, hàng ngày, ngoài thì giờ vào diện hầu Viên, còn nữa chỉ lưu liên nơi quán một con hát tên là Phụng Tiên, lính trinh thám rình ở nhà Phụng Tiên mãi mãi, thấy ông tuyệt vô hành động, lâu ngày chồn mỏi, canh giữ có ý sơ sài, nhưng ông biết Viên còn nghi ông lắm, vả thì cơ khởi nghĩa cũng chưa tới nơi nên ông hãy còn ẩn nhẫn, lại càng thân thiết với Phụng Tiên in như vợ chồng. Hàng ngày triều Viên ra thời về ngay ở nhà Phụng Tiên không bao giờ về công quán.
Viên lại sai người rình ở công quán, tưởng có mật mưu gì chăng. Ông biết ý Viên, nhân có một ngày ông dắt Phụng Tiên về tại công quán, bà Thái phu nhân nổi ghen, đánh lộn với ông, móng tay bà quào rách mặt, ông tức khắc xin phép Viên li hôn. Bởi vì pháp luật li dị một vị mệnh phụ thượng tướng quân, tất phải xin phép đại tổng thống. Viên thấy thế cho ông là người bậy bạ. Lúc đó Thái phu nhân chia gia tài, mang giấy li hôn về Hồ Nam là quê hương của ông. Ông từ đó ăn ở riết một nhà với Phụng Tiên, bỏ quách công quán, ngày đêm trầm mê trong tửu địa hoa thiên.
Lại hơn hai năm nữa, chính vừa năm thứ tư Trung Hoa Dân Quốc, Viên mới thiệt xưng đế, cải nguyên Hồng Hiến, đổi quốc dân làm ra đế quốc. Tức sáng ngày sau đó, vừa lúc bảy giờ mai, chỉnh đốn quân trang gươm mũ chững chàng, xe ngựa rực rỡ, từ nhà Phụng Tiên ra đi, vào thẳng cửa Thiên Yên, trình với quan thị vệ canh cửa, xin vào diện triều tân hoàng đế. Quan thị vệ bảo rằng: “Chưa đến giờ hoàng đế xuất điện, ông hãy chờ đó, chín giờ sẽ vào”. Ông tức khắc thay đổi hết quân trang, để cả xe ngựa bộc tùng ở ngoài cửa Thiên Yên bảo chúng nó rằng: “Bay chờ tao ở đây, sớm mai ta chưa ăn điểm tâm, ta lại hàng ôten chút đỉnh, tới chín giờ ta vào chầu”.
Lúc đó ông mang gươm thượng tướng quân, khoát xe tay chạy thẳng về nhà Phụng Tiên, quăng gươm lột áo vứt cả mão seo thượng tướng, ăn mặc một cách đàng điếm, tay nách Phụng Tiên lên thẳng xe lửa đi Thiên Tân, tức khắc đáp tàu thủy Nhật Bản đến Hương Cảng thời đã có thầy ông là ông Lương Khải Siêu, bạn ông là ông An Thừa Hiến, chực sẵn đó rồi. Bắc Kinh đột nhiên mất một vị thượng tướng quân. Viên nổi giận quá, giết mười hai tên cảnh sát và mười hai tên trinh thám luôn. Đến tháng sau thời Vân Nam đầu tiên khởi nghĩa đánh Viên, tứ phương hường ứng, chưa ba tháng mà Hồng Hiến đổ, Viên chết tức.
Thái phu nhân cũng vào Tứ Xuyên giúp việc với ông. Đó mới biết cách Độn của tay anh hùng mà sức thần thiếp chẳng phải là việc vô dụng. Khi ông Tùng Pha chết, toàn quốc dân khai hội truy điệu, Phụng Tiên cũng có câu đối điếu ông rằng: Bất ý Chu Lang cánh đoản mệnh [19] Tảo tri Lí Tĩnh thị anh hùng [20] (Ai ngờ chàng Chu mà đoản mệnh, vẫn đe Lí Tĩnh là anh hùng)
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:好遯君子吉,小人否。
Phan Bội Châu chú giải:
Háo độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ. Cửu Tứ chính ứng với Sơ Lục, Sơ âm, Tứ dương mà ứng với nhau, vẫn sẵn có cảm tình thân thiết, nhưng Sơ là tiểu nhân, Tứ là quân tử, có lẽ đâu dung hòa được. Khi Tứ đã nhận ra được Sơ không phải chân chính đồng chí với mình, tức khắc cắt đoạn tư tình mà tuyệt giao với Sơ, cho nên nói rằng háo độn, nghĩa là theo về tư tình vẫn có háo mà theo về công nghĩa thời tức khắc tránh xa. Xưa nay, những người cắt được tư tình mà tránh được tiểu nhân, tất duy đấng quân tử, hay đem đạo nghĩa cấm tình dục mới làm được thế mà kết quả mới được tốt lành.
Nếu tiểu nhân thời làm gì được thế, kết quả chỉ sụp vào hầm tình dục mà thói. Nên lại nói quân tử cát, tiểu nhân phủ, nghĩa là quân tử có đức cương kiện thời háo độn mà cát, nếu tiểu nhân thời không hay thế. Tượng viết: Quân tử háo độn, tiểu nhân phủ dã. Quân tử thời tuy có tính háo mà hay làm được nghĩa Độn, tiểu nhân thời há làm được đâu
Hào 5 — Cửu Ngũ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九五:嘉遯,貞吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Gia độn, trinh cát. Cửu Ngũ cư trung đắc chính, hạ ứng với Lục Nhị cũng có đức trung chính. Ở vào thì Độn mà trung chính với trung chính dắt nhau tránh tiểu nhân, cách Độn như thế rất là tốt đẹp nên nói rằng gia độn. Độn được như thế có gì là tà đâu, có gì là xấu đâu, trinh chính là cát đó vậy. Tượng viết: Gia độn trinh cát, dĩ chính chí dã. Vì ý chí hào Cửu Ngũ chỉ một mực theo chính, dầu tiểu nhân ưa mình mặc lòng mà mình vẫn cứ tránh xa, như thế là Gia độn trinh cát
Hào 6 — Thượng Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上九:肥遯,无不利。
Phan Bội Châu chú giải:
Phì độn, vô bất lị. Ở về thì Độn, chính là hồi quân tử tiêu, tiểu nhân trưởng. Quân tử ở về thời đại ấy, Độn xa được bao nhiêu thời tự do đầy đủ bấy nhiêu. Hào này là hào dương cương, vẫn là bậc quân tử, lại ở vào địa vị cuối cùng Ngoại Quái mà ở dưới không hệ ứng với ai, thiệt là Độn được rất xa mà tự xử bằng một cách rất thong thả, có khí tượng thái nhiên tự đắc, nên nói rằng phì độn, nghĩa là độn mà có ý tự đắc. Phì, nguyên nghĩa là béo nhưng ở đây thời phì là khoan khoái.
Độn mà được một cách rất khoan khoái thời không gì chẳng lị. Tượng viết: Phì độn vô bất lị, vô sở nghi dã. Hào Thượng Cửu có đức cương kiện, ở về thì Độn, lại ở địa vị vô vị, chỉ lấy đạo đức làm cao lương, lấy nhân, nghĩa làm màu mỡ, như thế thời Độn mà béo tốt, còn nghi ngại gì nữa. PHỤ CHÚ: Một bộ sách Dịch bao bọc hết sự lí vạn vật, mỗi một việc tất có thì của việc ấy, mỗi một thì tất có việc của thì ấy. Người ta ở đời có xuất tất có xử, có tiến tất có thối, chẳng những tiến với xuất là có việc mà thôi, với xử cũng là có việc.
Duy vì nhân thì mà phải có việc, mà làm việc tất phải đúng với thì. Dịch vị quân tử mưu nên phải đặt ra quẻ Độn, tức là thì, độn chóng hay chầy, độn xa hay gần, độn khéo hay vụng, độn hay không độn tức là việc. Hào Sơ độn chậm nên nói “độn vĩ” mà nguy. Hào Tam độn mà còn bìu ríu nên nói “hữu tật”. Hào Tứ: có vướng tư tình mà hay quyết nhiên viễn độn nên được cát. Hào Ngũ độn bằng trung chính nên được gia mà cát. Hào Thượng độn bằng một cách rất thái nhiên là tốt nhất trong thì Độn nên được câu “vô bất lị”.
Duy hào Lục Nhị có nghĩa đặc biệt trong thì Độn, thân mình là đại thần nghĩa phải dữ quốc tồn vong thời lại lấy bất độn làm việc. Tổng chi, chung một thời đại Độn mà việc có khác nhau như thế. Chúng ta xem ở thì toàn quẻ lại phải xem ở sáu hào. Tỉ như một ngày là thì chung, hai mươi bốn giờ là thì riêng. Vì thì riêng có khác nhau mà việc cũng có so se với nhau. Chỉ xem ở quẻ Độn thời cũng
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thiên Sơn Độn là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Thiên Sơn Độn Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 33 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thiên Sơn Độn Là Gì?
Thượng quái là Càn, tượng trời; hạ quái là Cấn, tượng núi. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 遯: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thiên Sơn Độn. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 32: Lôi Phong Hằng · Quẻ 34: Lôi Thiên Đại Tráng


Hotline