Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng: Sức Mạnh Cần Đi Cùng Điều Chính, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Lôi Thiên Đại Tráng số 34: Chấn trên, Càn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng (大壯) là quẻ số 34 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Chấn (sấm), hạ quái là Càn (trời). Đại Tráng trình bày sức mạnh đang lớn. Lời quẻ nêu lợi ở sự bền chính; hình tượng dê húc giậu trong các hào cho thấy cái mạnh có thể tự mắc kẹt khi sử dụng không đúng.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng Là Gì?

Số thứ tự 34/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Lôi Thiên Đại Tráng — 大壯
Thượng quái Chấn — Sấm
Hạ quái Càn — Trời
Hào dương 4
Hào âm 2

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Càn, ba hào sau tạo thượng quái Chấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

大壯:利貞。

Nguyên Văn Thoán Truyện

大壯,大者壯也。剛以動,故壯。大壯利貞;大者正也。正大而天地之情可見矣!

Nguyên Văn Đại Tượng

雷在天上,大壯;君子以非禮弗履。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Chấn trên; Kiền dưới Quẻ này là quẻ Lôi Thiên Đại Tráng. Càn hạ cũng là Nội Càn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Càn thiên, nên tên quẻ đọc bằng Lôi Thiên Đại Tráng. TỰ QUÁI Tự quái: Độn giả thối dã, vật bất khả dĩ chung độn, cố thụ chi dĩ Đại Tráng. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Độn, tiếp lấy quẻ Đại Tráng là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Độn. Độn, nghĩa là lui. Vật lí không giống gì là cứ lui hoài, hết thì vận lui thời tất lên, lên tất lớn mạnh. Vậy nên sau quẻ Độn, tiếp lấy quẻ Đại Tráng.

Theo thông lệ trong Dịch, tiểu là âm, đại là dương, quẻ này dương sinh đã đến bốn nét, âm tiêu chỉ còn hai nét. Thế là dương tráng thịnh lắm rồi nên tên quẻ đặt bằng Đại Tráng. Đại Tráng nghĩa là dương đã tráng thịnh. SOÁN TỪ Đại Tráng, lị trinh. Soán từ ở đây chỉ nói tên quẻ mà kiêm cả nghĩa quẻ, Đại Tráng thời dương đã thịnh rồi, quân tử tiến mạnh thời tiểu nhân phải lui, cát hanh không cần phải nói nữa, chỉ e cho bạn quân tử, ỷ mình gặp hồi thịnh mà kiêu căng đắc chí, lỡ có khi chạy vào đường bất chính chăng.

Thánh nhân mừng cho Đại Tráng mà lại răn bằng lị trinh nên nói rằng: Đại Tráng, lị trinh, nghĩa là đại tuy tráng rồi, nhưng cốt phải bền giữ đạo chính. PHỤ CHÚ: Cổ nhân có câu: Đắc ý thường tư thất ý thì, nghĩa là hồi đã đắc ý càng nên phải nghĩ đến khi thất ý. Tòng lai, tiểu nhân sở dĩ hãm hại quân tử, thường rình ngó ở lúc quân tử đắc chí mà vạch lá tìm ra sâu, ngậm cát phun vào mặt, nên quân tử càng phải khủng cụ tu tỉnh lắm. Quái từ chỉ có bốn chữ: Đại Tráng, lị trinh mà ý nghĩa thiệt đủ.

Trinh, nguyên là tạo nhân được Đại, Đại là kết quả của trinh. Đại mà lại hay trinh thời mới bảo tồn được tráng. Đó là ý thánh nhân phù quân tử vậy. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Đại Tráng, đại giả tráng dã, cương dĩ động, cố tráng. Đại Tráng, lị trinh, đại giả chính dã, chính đại nhi thiên địa chi tình khả kiến hĩ. Soán viết: Đại Tráng, đại giả tráng dã, cương dĩ động, cô tráng. Theo về thể quẻ, dương hai phần, âm một phần, dương tiến vào trong, âm lui ra ở ngoài, thế là phần dương được tráng thịnh nên tên quẻ đặt bằng Đại Tráng.

Vả theo như đức quẻ thời Càn cương trong, chấn động ở ngoài, thế là lấy đức dương cương mà động. Vậy nên tráng thịnh. Đại Tráng, lị trinh, đại giả chính dã, chính đại nhi thiên địa chi tình khả kiến hĩ. Quái từ nói rằng: Đại Tráng lị trinh, nghĩa là, sở dĩ đại được như thế là vì có chính vậy. Nói trái lại, nếu không chính thời không đại, vì có chính thời mới đại, đã chính thời lại đại thêm, chỉ xem ở nơi chính đại mà suy cho đến thiệt rộng thời chân tình của thiên địa, cũng có thể thấy được rồi.

PHỤ CHÚ: Quẻ Phục nhất dương sinh thời Soán Truyện nói: “Kiến thiên địa chi tâm”, quẻ Đại Tráng tứ dương trưởng thời Soán Truyện nói: “Kiến thiên địa chi tình”. Chữ tâm với chữ tình sở dĩ khác nhau là vì cớ sao? Tâm chỉ là ý tứ ngậm chứa ở bề trong. Tình thời có manh múi tỏ rõ ra ở bề ngoài. Tâm, tình nguyên chỉ một gốc mà thể, dụng thời có khác nhau. Nguyên lai, tấm lòng của trời đất chỉ cốt ở sinh vật, nhưng khi sinh cơ còn ẩn nấp thời không thể thấy được thiên địa chi tâm.

Đến quẻ Phục mà nhất dương sơ sinh thời sinh cơ đã manh động nên thấy được thiên địa chi tâm. Đến quẻ Đại Tráng dương trưởng đã đến bốn nét thời lòng sinh vật của thiên địa đã có tác dụng tỏ rõ ra bề ngoài thời mới thấy được thiên địa chi tình. Hai chữ đại nghĩa có khác nhau. Chữ “ đại giả ” ở trên, đại chuyên chỉ bằng tứ dương; chữ “ đại giả ” ở dưới thời đại là thuyết lí, chỉ nghĩa là lớn. Chính mà to lớn, ấy là tình của thiên địa. Thầy Mạnh bàn dưỡng khí mà nói rằng: Cái làm ra khí đó rất lớn, rất mạnh, lấy lí thẳng nuôi nó mà không tổn hại đến nó.

Mấy câu ấy, chính là học Soán Truyện Đại Tráng vậy. Chữ “cương”, chữ “đại”, chữ “trực” tức là chữ chính đại ở quẻ này. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Lôi tại thiên thượng, Đại Tráng. Quân tử dĩ phi lễ phất lí. Quẻ này Càn ở dưới, Chấn ở trên, tượng là sấm vang động trên trời, tiếng kêu được rất lớn, uy vang được rất xa. Như thế thời Đại mà lại Tráng. Quân tử xem tượng ấy, bắt chước Đại Tráng mà làm cách đại tráng của mình, phấn chấn tinh thần của mình, để đánh đổ giặc tư dục, tự cường bất tức, cố làm cho đến thánh hiền.

Hễ việc gì không hợp với thiên lí thời quyết không làm ngay. Phật Kinh có nói rằng: Nhất thiết giặc ở ngoài, đều có thể đánh đổ được, duy có sáu giặc trong mình, khó đánh mà thôi. Nếu đánh được giặc đó, mới là đại tráng của quân tử. Sách Trung Dung của thầy Tử Lộ hỏi việc cường, Đức Khổng Tử dạy cho rằng: Quân tử hoà với chúng mà không trôi, khó đánh mà thôi, nếu đánh được giặc đó, mới là đại tráng của quân tử. Sách Trung Dung, thầy Tử Lộ hỏi việc cường, đức nổi theo chúng, đứng bằng cách trung chính mà không nương dựa vào phía nào.

Mạnh vậy thay! Rất mạnh, thảy là như nghĩa tượng từ đây. Xưa nay những cách phùng mang trợn mắt, xông súng đạn, nhảy hầm than, tục thường vẫn khen làm tráng, những võ phu dũng sĩ thường hay làm được; đến như cấm được tư tình, biến hoá được khí chất thời tất phải có nghĩa lí chí dũng được như quân tử mới làm nên, nên nói rằng: Quân tử dĩ phi lễ phất lí ( Lễ tức là lẽ trời; lí nghĩa là làm)

Sáu Hào Của Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初九:壯于趾,征凶,有孚。

Phan Bội Châu chú giải:

Tráng vu chỉ, chinh hung, hữu phu. Sơ Cửu dương cương Càn thể mà xử vào địa vị dưới hết quẻ, lấy tượng bằng thân người thời tượng là ngón chân ở dưới mà ham tiến động. Sơ Cửu vị dương cương mà lại thể kiện, xử Sơ chính là người ở địa vị thấp mà hấp tấp láu táu quá hăng bằng một cách nhuệ tiến, tyhế là tráng vu chỉ. Chỉ nghĩa là ngón chân, hăng lên mà chỉ dùng bằng ngón chân thế nào đi cũng vấp ngã nên nói rằng: Chinh hung, hữu phu, nghĩa là đi lên thời tất nhiên xấu.

Nghĩa chữ “hữu phu” ở đây, khác nghĩa chữ “hữu phu” ở mọi nơi: Phu nghĩa là chắc chắn; hung, hữu phu, xấu chắc chắn. Tượng viết: Tráng vu chỉ, kì phu cùng dã. Ổ vào thời Đại Tráng thời tráng vẫn có lẽ hay, nhưng Sơ là địa vị tối hạ mà toan dùng cách hăng mạnh ra với đời, hạng người ấy tất nhiên cùng khốn vậy

Hào 2 — Cửu Nhị

Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九二:貞吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Trinh cát. Cửu Nhị bản chất vẫn dương cương mà ở vào âm nhu lại ở được vị trung, thế là cương, nhu vừa đắc trung, tráng mà không quá chừng tráng, ấy là được trinh chính mà có tốt lành vậy. PHỤ CHÚ: Theo thường lệ ở quẻ khác thời dương cư âm vị mà bất chính. Nhưng hào này Cửu Nhị là đắc trung rồi, đã đắc trung thời chẳng bao giờ bất chính. Đó lại là biến lệ trong Dịch nên Hào từ dùng chữ “trinh cát”. Tượng viết: Cửu Nhị trinh cát, dĩ trung dã. Cửu Nhị mà được trinh cát là vì được đạo trung vậy

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:小人用壯,君子用罔,貞厲。羝羊觸藩,羸其角。

Phan Bội Châu chú giải:

Tiểu nhân dụng tráng quân tử dụng võng, trinh lệ. Đê dương xúc phiên, luy kì giốc. Cửu đã dương cương, Tam cũng dương cương, trùng dương mà xử vào thời Đại Tráng lại ở cuối cùng Càn thể, thế tất là người tráng chi cực. Tiểu nhân mà như thế thời dùng cách ấy mà tỏ ra một cách hung mạnh. Nếu ở về người quân tử thời dùng cách ấy mà tỏ rõ ra một cách gan liều. Chữ tráng ở đây nghĩa là hăng mạnh, chữ võng nguyên nghĩa như chữ vô, ở đây thời lại có nghĩa là gan liều. Xem nhất thiết việc như hình không mà không kiêng sợ gì thời gọi bằng võng.

Tiểu nhân quân tử là địa vị khác nhau, dụng tráng dụng võng là thủ đoạn khác, nhưng tổng chi cũng là tráng bướng cả. Tráng mà tráng bướng thời dầu có chính nữa cũng phải nguy. Tượng như con dê đực ỷ mình có sừng, hễ thấy giậu tường thời húc ngay, giậu tường thời không đổ mà sừng chắc phải gãy ( Đê dương nghĩa là con dê đực; phiên, nghĩa là tượng giậu; xúc, nghĩa là húc chận; giốc, nghĩa là sừng; luy, nghĩa là gãy). Đê dương xúc phiên, luy kì giốc là thí dụ bằng cách “thái cương tắc chiết”.

Tượng viết: Tiểu nhân dụng tráng, quân tử võng dã. Tiểu nhân mà như Cửu Tam thời là vì tráng mà sát thân, quân tử mà như Cửu Tam thời là vì võng mà mang họa. Dụng tráng in như câu Bạo hổ bằng hà, tử nhi hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn. PHỤ CHÚ: Hễ mỗi hào trong Dịch, bao bọc hết mấy hạng người nên thánh nhân thường đặt ra hai nghĩa: Lục Ngũ quẻ Hằng, phụ nhân cát, phu tử hung, Cửu Tam quẻ Bĩ, tiểu nhân cát, đại nhân bĩ hanh. Cửu Tứ quẻ Độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ, v.v.

Như những loài ấy, Cửu Tam này cũng thế. Người vận dụng được hào không phải hào vận dụng được người. Xin học giả chớ nệ văn mà không biết lí

Hào 4 — Cửu Tứ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九四:貞吉悔亡,藩決不羸,壯于大轝(一作輿)之腹(一作輹)。

Phan Bội Châu chú giải:

Trinh cát, hối vong, phiên quyết bất luy, tráng vu đại dư chi phúc. Cửu Tứ qua khỏi Càn mà vào Chấn thể, dương trưởng đã đến lúc cuối cùng là tráng thịnh đã đạt ở cực điểm, vả lại hào Tứ này ở trên hết quần dương, chính là người lãnh tụ trong đám quân tử. Thánh nhân sợ vì quá đầy mà nghiêng, không khéo lại lầm về đường bất chính nên có lời răn rằng: Trinh cát, hối vong, nghĩa là giữ được chính thời lành mà khỏi được những việc phải ăn năn. Lại theo về thể quẻ: Bước lên trên Tứ là hào Ngũ, hào Thượng, rặt là hào âm, âm đã đến lúc suy, đánh đổ nó có thể dễ, tượng như tường ở trước mặt bây giờ đã đổ trổng, không còn khốn nạn gì, nên nói rằng: Phiên quyết bất luy.

Chữ phiên, chữ luy tiếp Cửu Tam mà nói chuyện. Tam còn có phiên, đến Tứ thời phiên quyết, không phải sợ lưu độc. Cửu Tứ đã gặp được cơ hội như thế, suất lệnh cả ba dương ào ào mà lên, nước bước đường đi chắc rất thuận lị, tượng như cưỡi cỗ xe lớn mà cốt bánh xe lại được vững vàng. Thí dụ bằng tượng ấy là mừng cho quân tử đã đến ngày tiến hành thuận lị vậy. ( Đại dư nghĩa là cỗ xe lớn; phúc là cốt bánh xe). Xử vào thời đại Tráng mà lại có tài liệu như cỗ xe lớn, cốt cứng thời xe mạnh, thời tiến hành có khó gì đâu.

Tượng viết: Phiên quyết bất luy, thượng vãng dã. Cửu Tam sở dĩ không tiến được là vì trước mặt hãy còn giậu tường ngăn trở. Bây giờ đã phiên quyết bất luy rồi thời tiến mãi không thôi là sự thế tất nhiên ( Thượng vãng nghĩa là tiến lên hoài)

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:喪羊于易,无悔。

Phan Bội Châu chú giải:

Táng dương vu dị, vô hối. Lục Ngũ ở địa vị chí tôn mà lại vừa thời Đại Tráng, quần dương ở dưới, dương tiến mạnh là thường. Ngũ ở trên họ mà bản chất Ngũ là âm nhu, thiệt không thể lấy thế lực mình áp phục được họ, chỉ duy có một cách, dùng ngón nhu thuận, lấy hoà dị vui vẻ đối đãi với họ. Ngũ đã không có lòng rầy rà với họ thời quần dương kia cùng không biết thả ngón cương cường vào chốn nào, tượng như có bầy dê mà mất hẳn bầy dê bằng một cách dung dị.

Nếu thí dụ bằng táng dương vu dị. Táng dương nghĩa là mất dê, dê hay đi bầy mà tính ham chậm. Dương là ví vào quần tự nhiên dương, lấy một cách chí nhu đối đãi với quần dương mà quần dương tự nhiên mất thủ đoạn cương cường. Thế là mất dê bằng cách dễ dàng vậy. Như thế, chắc không việc gì phải ăn năn. PHỤ CHÚ: Sách Lão Tử có câu: Lấy đạo chí nhu trong thiên hạ mà lùa đẩy được những món chí cương trong thiên hạ thiên hạ chi chí nhu trì sinh thiên hạ chi chí cương.

Ông Quang Vũ đời Hán có nói rằng: Ngô dĩ nhu đạo trì thiên hạ, cũng tương tự như Hào từ này, Tượng viết: Táng dương vu dị, vị bất đáng dã. Ở về thời Đại Tráng mà cớ sao chỉ dùng bằng một cách nhu hoà? Bởi vì Ngũ là âm nhu mà ở vào tôn vị, bản thân vẫn không tài dương cương, nếu không dùng cách nhu hoà thời làm sao mà ở được vị ấy

Hào 6 — Thượng Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上六:羝羊觸藩,不能退,不能遂,无攸利,艱則吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Đê đương xúc phiên, bất năng thối, bất năng toại, vô du lị, gian tắc cát. Thượng Lục ở cuối cúng quẻ Đại Tráng, lại ở trên hết thể Chấn, thế là Tráng chi chung, động chi cực nên láu táu chạy quàng, tượng như dê đực ỷ thế có sừng mà húc vào tường giậu, muốn lui thời sừng đã mắc vào tường không thể lui, muốn lên thời sức không thể đẩy được tường nên không thể lên được. Lúc bây giờ tiến thối lưỡng nan, thế là bất năng thối, bất năng toại, còn có gì lị nữa đâu. Bất năng thối là vì táo động quá tay, bất năng toại là vì bản chất quá nhu nhược nên kết quả vô du lị.

Tuy nhiên, địa vị hào Thượng là Đại Tráng đã đến lúc cùng, hễ cùng thời biến, may chi Thượng biến được tính chất của mình, bỏ nết táo động mà tự xử bằng một cách gian nan. Thế là chí tĩnh chế động thời có lẽ cát ( Toại cũng như nghĩa chữ thành). Trong Luận Ngữ có chữ “toại sự”, tức là nghĩa chữ toại ở đây. Tượng viết: Bất năng thối, bất năng toại, bất tường dã, gian tắc cát, cựu bất trường dã. Muốn thối mà thối cũng không xong, muốn tiến mà tiến cũng không được là vì mình tự xử không được tường thẩm cho nên đến nỗi thế, nhưng còn may, đến lúc Đại Tráng đã cùng rồi, nhân cùng mà biết biến đổi, biết gian nan tự thủ thời tội lỗi cũng không bao nhiêu.

Vậy nên nói rằng: Gian tắc cát. PHỤ CHÚ: Đại Tráng là quẻ dương thịnh âm suy, theo thường lệ quẻ tốt mà Hào từ trong sáu hào, lại không có hào nào là thiệt tốt là bởi vì thời Đại Tráng tuy là một vận hội rất tốt, nhưng hễ phúc thời thường nấp cơ họa, thịnh thời thường nấp cơ suy. Quái từ chỉ nói về thì nên lời quẻ không thấy xấu. Hào từ lại nói riêng từng hạng người trong thời Đại Tráng, thấy phúc phải lo đến họa, thấy thịnh phải lo đến suy, tất phải dùng những lời răn đe ngăn ngừa nên Hào từ không thể nói tốt.

Đó chính là lẽ tiêu, tức, dinh, hư, trong Dịch mà thánh nhân phải dặn trước cho người ta, chính như nghĩa Hào từ Cửu Tam quẻ Thái, muốn cho người chớ thấy Đại Tráng mà đắc ý

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Lôi Thiên Đại Tráng là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 34 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Lôi Thiên Đại Tráng Là Gì?

Thượng quái là Chấn, tượng sấm; hạ quái là Càn, tượng trời. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 大壯: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Lôi Thiên Đại Tráng. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 33: Thiên Sơn Độn · Quẻ 35: Hỏa Địa Tấn

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline