Quẻ Địa Phong Thăng (升) là quẻ số 46 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Khôn (đất), hạ quái là Tốn (gió). Thăng nói về đi lên. Hình tượng cây mọc trong đất được lời tượng liên hệ với tích lũy việc nhỏ để đạt điều cao lớn; sự đi lên vẫn cần xét tài, đức và vị trí.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Địa Phong Thăng Là Gì?
| Số thứ tự | 46/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Địa Phong Thăng — 升 |
| Thượng quái | Khôn — Đất |
| Hạ quái | Tốn — Gió |
| Hào dương | 2 |
| Hào âm | 4 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Tốn, ba hào sau tạo thượng quái Khôn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Địa Phong Thăng
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
升:元亨,用見大人,勿恤,南征吉。
Nguyên Văn Thoán Truyện
柔以時升,巽而順,剛中而應,是以大亨。用見大人,勿恤;有慶也。南征吉,志行也。
Nguyên Văn Đại Tượng
地中生木,升;君子以順德,積小以高大。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Khôn trên; Tốn dưới Quẻ này là quẻ Địa Phong Thăng. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Khôn thượng cũng là Ngoại Khôn. Khôn địa, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Địa Phong Thăng. TỰ QUÁI Tự quái: Tụy giả tụ dã. Tụ nhi thượng giả, vị chi thăng; cố thụ chi dĩ Thăng. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tụy, tiếp lấy quẻ Thăng là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Tụy. Tụy, nghĩa là nhóm, vật đã nhóm lại, tất cứ chồng chất lên lần lần, nên sau quẻ Tụy tiếp lấy quẻ Thăng; Thăng, nghĩa là chồng chất lên cao.
Khôn là địa, Tốn là mộc, cây ở dưới đất, tất phải mọc lên, lên càng lớn, lớn càng cao. Thế là thượng thăng, nên đặt tên quẻ bằng Thăng. SOÁN TỪ Thăng, nguyên hanh, dụng kiến đại nhân, vật tuất, Nam chinh, cát. Quái từ ở đây, chỉ lấy nghĩa bằng chữ Thăng, hễ đã tiến lên được, buồm theo gió thuận, ngựa ruổi đường trời, chắc là được đại thông, nhưng mà sở dĩ được nguyên hanh, chẳng những vì thời thế xui nên mà thôi, trong thời đại ấy, tất phải có hạng người đại tài đại đức mà thiên hạ tín ngưỡng là đại nhân.
Nếu quả như thế thời chẳng cần lo ngại gì. Duy có một mực tiền tiến mà sự nghiệp phát triển hoài. Nam nghĩa là mặt trước; Nam chinh, nhè mặt trước mà tiến lên hoài. Hai chữ Nam chinh là hình dung ý tiền tiến; cát tức là tượng nguyên hanh; chớ nệ rằng Nam chinh là đi phương Nam. PHỤ CHÚ: Quái từ trong Dịch chỉ có hai chữ nguyên hanh mà chẳng phải răn bằng lị trinh, như thế, chỉ được có ba quẻ là Đại Hữu, Đỉnh, Thăng, như ba quẻ ấy là rất đắc thì hành đạo. Thăng là thì quân tử tấn hành không trở ngại; Đỉnh là thì quân tử được hưởng thiên lộc; Đại Hữu là thì quân tử được đại hữu vi, quân tử đắc chí không bao giờ hơn ba quẻ ấy.
Vậy nên, Quái từ chỉ nói, hai chữ nguyên hanh mà không cần răn bằng lị trinh. Bây giờ ta xét đến Quái thể ba quẻ ấy, tất thảy là Cửu cư Nhị: Lục cư Ngũ: mới biết rằng: Ở trong cương mà có nhu, trong nhu mà có cương, và thảy đắc trung, cương, nhu đắc trung mà ứng với nhau, mới hay tạo thành thời thế như ba quẻ ấy, thiên thì, nhân sự, dắt nhau mà lên, há phải lời nói không rư? SOÁN TRUYỆN Soán viết: Nhu dĩ thì thăng, tốn nhi thuận, cương trung nhi ứng, thị dĩ đại hanh.
Dụng kiến đại nhân, vật tuất, hữu khánh dã. Nam chinh cát, chí hành dã. Soán viết: Nhu dĩ thì thăng. Theo như thể quẻ Thăng thời Khôn là âm nhu mà tiến lên Thượng Quái, ấy là theo thì mà thăng đó vậy. Cương thượng thăng là lẽ thường, Bây giờ, trái lại, nhu mà thượng thăng là vì thì nên như thế, nên nói rằng: Nhu dĩ thì thăng. Vậy có thực thì mới nói được Dịch. Tốn nhi thuận, cương trung nhi ứng, thị dĩ đại hanh. Nội Tốn là có tính tốn, Ngoại Khôn là có tính thuận, Cửu Nhị có đức cương trung ứng với Lục Ngũ, Ngũ lấy đức nhu trung ứng với Nhị, ấy là tốn nhi thuận, cương trung nhi ứng, vì vậy nên được đại hanh.
Dụng kiến đại nhân, vật tuất, hữu khánh dã. Thế đạo tuy có lúc đến thăng, nhưng mà làm nên thăng, tất nhiên do ở nhân sự. Vương công thời thăng ở vị, thánh hiền thời thăng ở đạo, có đạo thánh hiển mà lại có vị vương công, chính là bậc đại nhân ở thì Thăng. Thiên hạ thấy được bậc đại nhân ấy thời chẳng cần lo gì mà chắc có phúc khánh đó vậy. Chữ đại nhân chỉ vào Cửu Nhị, hễ có đức cương trung, mới đáng được chữ đại nhân. Nam chinh cát, chí hành dã. Ở vào thì Thăng mà lại kiến được đại nhân thời chí của mình tiền tiến, chắc không ai ngăn đón được nữa, nên nói rằng Nam chinh cát, chí hành dã.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Địa trung sanh mộc, Thăng. Quân tử dĩ thuận đức, tích tiểu dĩ cao đại. Tốn ở dưới Khôn, Khôn là đất, Tốn là cây, cây mọc lên ở giữa đất, đất làm tốt cho cây, cây càng ngày càng cao lớn, thế là tượng quẻ Thăng. Quân tử xem tượng ấy, thuận đường lối mà tu đức mình, tích lũy từ lúc nhỏ mà lần cao đến tột mực (Chữ thuận đức ở đây chỉ cắt nghĩa xuôi, nghĩa là, thuận theo lối đạo đức). Sách Sử kí có câu “thuận đức giả xương”, cũng là nghĩa ấy. Còn chữ thuận đức ở mọi nơi, phần nhiều cắt nghĩa ngược lại, nghĩa là đức thuận.
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện ở đây rất hay là chữ tích. Hệ tử đã nói rằng: Việc lành không chứa trữ, không đủ thành được danh. Nếu muốn thăng mà không tích thời không bao giờ thăng được. Tích, nghĩa là chồng chứa lại, ví như trèo thang, tất bắt đầu trèo từ bậc dưới hết mà trèo dần lên hoài thời dầu thang dài đến mấy bậc cũng lên tới nơi. Ví như đắp tháp, tất bắt đầu đắp từ nền dưới hết mà tích lớp đắp hoài thời tháp dầu cao mấy tầng cũng xây nên, cho nên công nghiệp làm thăng, tất trước phải tích tiểu.
Bây giờ nói tới sự nghiệp cao đại, chúng ta ai chẳng muốn làm, mà nói tích tiểu thiện thời lại chẳng ai muốn làm, té ra cất chân một bước mà muốn vượt tới mười bậc thang, sắp đất một hòn mà muốn xây nên mười tầng tháp, thiệt là vô lí. Vậy nên, muốn xây một lâu đài Thăng, tất phải lấy thuận đức tích tiểu làm nền tảng vậy. Xưa Lưu Huyền Đức có nói rằng: Chớ khinh điều thiện nhỏ mà không làm. Sách Trung Dung có câu: Đạo của quân tử, ví như lên cao, tất khỉ tự chốn thấp là nghĩa chữ tích ở đây.
HÀO TỬ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
Sáu Hào Của Quẻ Địa Phong Thăng
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:允升,大吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Doãn thăng, đại cát. Sơ Lục tính chất âm nhu, ở dưới thể Tốn làm chủ cho Tốn là người rất có đức tốn thuận, đương ở thì Thăng mà hay tốn thuận với hai dương ở trên mình, nhờ bạn dương cương mà dắt mình lên. Thế là vì có lòng tin theo mà thăng được, tốt lành rất lớn đó vậy. Tượng viết: Doãn thăng đại cát, thượng hợp chí dã. Ở đầu thì Thăng mà được doãn thăng đại cát là vì có hai hào dương ở trên, đồng chí với Sơ vậy. PHỤ CHÚ: Hào Lục Tam quẻ Tấn có chữ chúng doãn vì có hai âm ở dưới tin mình mà mình tấn được, Sơ Lục quẻ Thăng, có chữ doãn thăng vì ở trên có hai dương tin mình mà mình thăng được.
Chúng ta xem ở chữ doãn; doãn nghĩa là tin, bạn âm tin nhau mà được hối vong, dương với âm tin nhau mà được đại cát. Thế mới biết, trong xã hội, vô luận hạng người nào, hễ đã đồng công cộng sự với nhau, tất có tin nhau mới mong có hiệu quả. Trái lại, nghi nhau, ghét nhau mà mong làm sự nghiệp tấn thăng, té ra muốn bay mà xén mất cánh, muốn đi mà cắt quách chân, có làm gì nên. Vậy nên, Tượng Truyện kết thúc lấy chữ Hợp chí
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:孚乃利用禴,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Phu nãi lị dụng thược, vô cựu. Cửu Nhị chính ứng với Lục Ngũ; Cửu Nhị dương cương mà ở dưới, Lục Ngũ âm nhu mà ở trên, tính chất khác nhau, bên minh bên ám, địa vị khác nhau, bên tôn bên ti, thế mà chung nhau làm sự nghiệp Thăng ở thì Thăng. Nếu không phải cảm nhau bằng cách chí thành thời kẻ trên nghi kẻ dưới, kẻ dưới né kẻ trên, chẳng bao giờ thăng được nên Hào từ nói rằng: Nhị đã ứng với Ngũ: Ngũ tuy nhu nhược mặc lòng, Nhị nên lấy đức dương cương mà giùm giúp cho Ngũ; cần phải hết lòng chí thành mà cảm cách với người trên, tất nhiên người trên cũng lấy chí thành mà tín nhậm mình.
Thành ý đã cố kết cả hai bên thời ngoại sức phiền văn chẳng cần dùng đến, tỉ như tế thần mà chỉ lấy chí thành cảm thần, lễ vật rất đơn sơ như tế thược, nhưng hữu thành thời hữu thần, không cần gì lễ vật ráo. Phu, nghĩa là chí thành; lị dụng thược nghĩa là trọng chí thành, không cần văn sức. Như thế thời được vô cựu. Tượng viết: Cửu Nhị chi phu, hữu hỉ dã. Cửu Nhị lấy chí thành mà cảm cách được Lục Ngũ: thời chẳng những vô cựu mà thôi lại còn bố thí được ân trạch khắp thiên hạ là việc đáng vui vẻ lắm vậy
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:升虛邑。
Phan Bội Châu chú giải:
Thăng hư ấp. Dương hào ở dương vị, vẫn là đã đắc chính, lại ở trên hết Nội Tốn là Tốn chi cực; có tài dương cương mà lại pha vào đức tốn thuận nên tam âm ở trên thảy thuận theo với mình; ở vào thì Thăng mà sức lên của mình đã giỏi, người dắt mình lên lại đông, thăng tới đâu cũng được một cách dễ dàng, tượng như vào một ấp bỏ trống không ai ngăn cản. Tượng viết: Thăng hư ấp, vô sở nghi dã. Cửu Tam có tài dương cương, có đức tốn thuận mà lại đông bạn, gặp thì, thăng quá dễ dàng như nhập vô nhân chi ấp, thiệt không nghi ngại gì nữa
Hào 4 — Lục Tứ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六四:王用享(一作亨)于岐山,吉无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Vương dụng hanh vu Kì Sơn, cát, vô cựu. Lục Tứ có đức nhu thuận đắc chính, lại ở vào thể quẻ trên, địa vị mình lại ở gần Lục Ngũ, như ở vào đời phong kiến thời chính là vua một nước chư hầu, trên giúp sự nghiệp thăng cho thiên tử, dưới dắt quần hiền mà thăng tiến với mình, đưa dân một nước lên cõi thanh bình. Ngày xưa vua Văn Vương đã từng dùng đạo ấy mà hanh thịnh ở Kì Sơn nên Hào từ nói rằng: Vương dụng hanh vu Kì Sơn. Người ta ở vào địa vị Tứ mà nếu được như thế thời cũng in như vua Văn Vương, đã cát mà lại vô cựu.
Tượng viết: Vương dụng hanh vu Kì Sơn, thuận sự dã. Vương dụng hanh vu Kì Sơn chỉ là thuận theo thì nên thăng mà thăng, trên thời thuận với việc người trên, dưới thời thuận với việc người dưới, thuận theo như nghĩa vụ của mình, thảy là một việc thuận mà thôi. PHỤ CHÚ: Hào từ này vẫn rất tốt, đáng có chữ Thăng như mọi hào, cớ sao không có chữ Thăng? Bởi vì hào Tứ bức cận với Ngũ; Ngũ là địa vị rất tôn, nếu giữa bản thân Tứ mà còn có chữ Thăng thời thăng vào đâu, tất phải đánh đổ Ngũ, nên Hào từ không có chữ Thăng, cốt để tránh khỏi họa bức thượng nên Tượng Truyện lại thêm vào hai chữ thuận sự thời ý nghĩa lại càng rõ lắm.
Nguyên lai, Dịch lí thường ở chốn không chữ. Xem như Hào từ không chữ Thăng, chúng ta đọc Dịch nên để ý vào chốn ấy
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:貞吉,升階。
Phan Bội Châu chú giải:
Trinh cát, thăng giai. Lục Ngũ bản chất tuy âm nhu, nhưng ở vào vị dương cương mà lại đắc trung, ở dưới có Cửu Nhị là bậc hiền thần, có đức cương trung, đem lòng phu tín mà giúp đỡ cho Ngũ. Chắc hay trinh cố mà chuyên nhậm hiền thần, tất nhiên được cát, vả lại các bậc hiền thần ở dưới thảy làm bậc thềm cho Ngũ lên vậy. Trinh cát thăng giai nghĩa là giữ được trinh thời cát mà lên dễ như bước lên thềm vậy. Giai nghĩa là bậc thềm; thăng giai là thí dụ một cách lên rất dễ, cũng như thăng hư ấp ở hào Tam.
Tượng viết: Trinh cát thăng giai, đại đắc chí dã. Trinh cát mà thăng được giai, lúc bây giờ chí mình ra làm việc thiên hạ, sẽ dắt người thiên hạ lên, mới là thỏa thích lắm vậy. PHỤ CHÚ: Trên kia Soán từ nói Nam chinh, cát, thời Soán Truyện nói: Chí hành dã, ở Hào từ đây Tượng Truyện lại nói: Đại đắc chí dã. Hai chữ chí đó chỉ có một chữ, nhưng chúng ta phải biết, chí đó là chí gì? Xưa nay, quân tử ở về thì Thăng, mục đích Thăng há phải muốn lên ngồi cao rư! Dắt thế đạo cho lên tháp đại đồng, đẩy nhân loại cho lên đài cực lạc, thế mới đạt mục đích Thăng của quân tử.
Nói cho đúng, chí tại thiên hạ mà không phải chí tại thân gia nên nói rằng đại đắc. Nếu chí tại thân gia thời ty bỉ nhỏ mọn lắm làm sao mà gọi bằng đại được rư!
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:冥升,利于不息之貞。
Phan Bội Châu chú giải:
Minh thăng, lị vu bất tức chi trinh. Thượng Lục ở trên hết quẻ Thăng, thế là thì Thăng đạt ở cực đỉểm, nhưng vì tính chất âm nhu hôn ám, thăng đã cực rồi mà còn cầu thăng hoài, tâm sự của Thượng thiệt là người hôn minh ở thì Thăng vậy. Lòng cầu thăng bất dĩ như thế, thiệt chẳng đi đâu mà lị, nhưng quân tử xử vào thì vi ấy thời lại có một cách rất hay, đổi lòng cầu thăng bất dĩ mà chuyển làm lòng tự cường bất tức, chẳng cầu thăng ở nơi địa vị mà chỉ cầu thăng ở nơi đạo đức, đạo đức trinh chính chẳng bao giờ nghỉ, dụng lòng cầu thăng vào chốn ấy thời lại rất hay.
PHỤ CHÚ: Thăng đã đến cực rồi mà còn cầu thăng, lấy tâm sự ấy mà thiệp thế thời không gì là hay, nhưng xây vào việc tu đức thời lại rất hay. Trung Dung khen vua Văn Vương thuần diệc bất dĩ, khen bậc thánh nhân chí thành bất tức, thảy là lị vu bất tức chi trinh. Vị mà cầu thăng không thối thời là tiểu nhân cực điểm; đạo đức mà cầu thăng không thối thời là quân tử cực điểm, cũng một tâm sự tác dụng mà thánh, phàm khác nhau xa, ai ngờ Hào từ phát huy ý nghĩa như thế, mới biết thì nghĩa của Dịch chẳng bao giờ tuyệt đối xấu, chỉ cốt độc giả biết biến thông mà thôi.
Tượng viết: Minh thăng tạì thượng, tiêu, bất phú dã. Ở trên hết quẻ mà còn minh thăng, tất nhiên thăng cực tất giáng, trưởng cực tất tiêu, còn có gì thêm được nữa. Chữ tiêu là ngậm ý chữ giáng, tức là tiêu; chữ phú đây là không phải danh từ, chỉ là động từ, phú là gia thêm vào; không lên thêm được nữa, tức là bất phú. Chẳng thăng được nữa, tất phải giáng
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Địa Phong Thăng là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Địa Phong Thăng Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 46 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Địa Phong Thăng Là Gì?
Thượng quái là Khôn, tượng đất; hạ quái là Tốn, tượng gió. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 升: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Địa Phong Thăng. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 45: Trạch Địa Tụy · Quẻ 47: Trạch Thủy Khốn


Hotline