Quẻ Trạch Địa Tụy (萃) là quẻ số 45 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Đoài (đầm), hạ quái là Khôn (đất). Tụy nói về tụ họp. Lời quẻ đặt việc tới tông miếu và gặp đại nhân trong bối cảnh quy tụ; Đại Tượng nhắc đến chuẩn bị để phòng điều không ngờ.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Trạch Địa Tụy Là Gì?
| Số thứ tự | 45/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Trạch Địa Tụy — 萃 |
| Thượng quái | Đoài — Đầm |
| Hạ quái | Khôn — Đất |
| Hào dương | 2 |
| Hào âm | 4 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Khôn, ba hào sau tạo thượng quái Đoài. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Trạch Địa Tụy
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
萃:王假有廟,利見大人,亨。利貞。用大牲吉,利有攸往。
Nguyên Văn Thoán Truyện
萃,聚也;順以說,剛中而應,故聚也。王假有廟,致孝享也。利見大人亨,聚以正也。用大牲吉,利有攸往,順天命也。觀其所聚,而天地萬物之情可見矣。
Nguyên Văn Đại Tượng
澤上于地,萃;君子以除戎器,戒不虞。
Ghi chú văn bản: Bản Wikisource được dẫn không đặt chữ 亨 ngay sau tên 萃; một số bản, trong đó phần dẫn của Phan Bội Châu, có chữ này. Bài giữ riêng hai lớp văn bản để không xóa khác biệt bản chép.
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Đoái trên; Khôn dưới Quẻ này là quẻ Trạch Địa Tụy. Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch Khôn Địa, nên tên quẻ đọc bằng Trạch Địa Tụy. TỰ QUÁI Tự quái: Cấu giả ngộ dã, vật tương ngộ nhi hậu tụ, cố thụ chi dĩ Tụy, Tụy giả tụ dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Cấu tiếp lấy quẻ Tụy là vì cớ sao? Trên là quẻ Cấu, Cấu nghĩa là đụng gặp, hễ vật có đụng gặp nhau mà sau mới thành bầy, đã thành bầy tất nhiên nhóm. Vậy nên sau quẻ Cấu tiếp lấy quẻ Tụy.
Tụy, nghĩa là nhóm họp. Nghĩa tên quẻ đã tường ở Soán Truyện, sẽ dịch ra sau. SOÁN TỪ Tụy, hanh, vương cách hữu miếu, lị kiến đại nhân, hanh, lị trinh. Dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng. Tụy, hanh, vương cách hữu miếu. Tụy, nghĩa là nhóm họp, nhưng trong đạo nhóm họp, rất khó khăn và rất huyền bí là thần với người nhóm họp ở một chốn, nên Soán từ nói rằng Tụy hanh, vương cách hữu miếu, nghĩa là đã nhóm được bầy người, tất nhiên hanh thông. Nhưng sở dĩ nhóm được bầy người, tất cốt ở chí thành mà muốn chứng nghiệm lòng chí thành, tất phải xem ở nơi cảm cách thần linh, nhóm tinh thành ở nơi tôn miếu mà tinh thần của thần lình cũng phảng phất bên tả hữu mình, ấy là thần với người nhóm nhau ở một chốn, nhà vương tới ở tông miếu là lấy tinh thành mà nhóm họp được loài vô hình đó vậy.
Lị kiến đại nhân, hanh, lị trinh. Trên đây nói: Thần nhóm với người là thuộc về phần lí luận. Dịch chẳng phải chỉ thuyết lí mà thôi mà lại nói cho tường đến sự thực, lẽ trong thiên hạ rất khó chỉnh tề là đám đông người, người nhóm lại thời dễ sinh ra mối tranh, rất khó hoàn toàn là đám nhiều việc, hễ việc nhóm lại thời nảy ra sự rối. Vậy nên trong đám đông người nhiều việc, tất phải có người chủ tể mới xong. Người chủ tế tức là người đầu bầy mà chính là người đại tài đại đức nên lại nói lị kiến đại nhân, hanh, nghĩa là tuy vẫn hanh thông được, nhưng tất phải lị kiến đại nhân thời đám Tụy đó mới được hanh.
Tỉ như, nhóm người một đảng, tất có người đại nhân làm đảng trưởng, nhóm người một nước, tất phải có đại nhân làm quốc trưởng, thảy là nghĩa ấy. Tuy nhiên, trong đám Tụy, há phải lị kiến đại nhân mà được hanh đâu, tất phải xem ở nơi chủ nghĩa sở dĩ nhóm có được chính đáng hay không. Nếu chủ nghĩa đám nhóm đó mà không chính đáng, tất nhiên trong đám ấy làm sao mà được tụy hanh, nên nói rằng lị trinh, nghĩa là, muốn nhóm cho được hanh thông, tất phải đường lối cho chính đáng. Trái lại, nếu nhóm họp bằng cách bất chính, thời chỉ là hữu danh vô thực, hữu thỉ vô chung, dầu có nhóm được dông người trong nhất thì, cùng chẳng làm gì nên.
Dịch lí quý trọng nhất là chữ thì, thì đã đến lúc Tụy rồi, về phương diện tinh thần vẫn nên long trọng mà phương diện vật chất cũng không thể sơ bạc. Tỉ như tế thần hoặc tiếp tân khách vẫn quý trọng thành tâm thực ý, nhưng cũng phải lễ vật phong hậu cho xứng thì, nên nói rằng dụng đại sinh, cát. Đại sinh nghĩa là cổ sanh lớn, tế hưởng mà dụng đại sinh chỉ là thiết lời cho tỏ rõ, thì nghĩa nên hậu mà hậu, như thế mới được cát. Lại còn một lẽ nữa, người ta đã đông đúc, của đã phong phú, chính là nhịp đại hữu vi, hễ những công việc lị dân dụng, hậu dân sinh tất phải lo tấn hành tiếp tục cho sự nghiệp được lâu dài phát đạt nên lại nói lị hữu du vãng.
PHỤ CHÚ: Quái từ này xem có ý như hình tán mạn nhưng thích tóm lại thời ý nghĩa vừa minh bạch và hoàn thiện lắm. Câu vương cách hữu miếu là cốt nhóm họp bằng tinh thần nên nói lấy tinh thành người mà nhóm họp được thần, thần còn nhóm họp được, huống còn người nữa rư? Đó là căn bản làm nên Tụy. Nhưng mà Tụy là nhóm, nhóm mà không người đầu bầy thời Tụy không xong, nên phải lị kiến người đại tài đại đức, đó là chương trình bắt đầu làm công việc Tụy. Nhóm bầy tất phải có chủ nghĩa cho chính đảng để quần chúng theo đường lối mà đi nên lại cần phải lị trinh, như thế, tất kết quả được Tụy hanh.
Lúc bây giờ lại cần phải dùng đến vật chất và sắp đặt tiến hành những công việc thiện hậu để cho Tụy tụ được lâu dài, nên lại phải dụng đại sinh, cát lị, hữu du vãng. Tổng chi, căn bản thứ nhất là tinh thành, bắt tay vào làm thời phải có chương trình, có chủ nghĩa, toan đến lúc kết quả, lại phải kiêm có vật chất với những việc lạc lị về phần sau, chúng ta nhận suốt ý nghĩa như thế thời trên mặt chữ Kinh văn, bất tất quá câu nệ. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Tụy tụ dã, thuận dĩ duyệt, cương trung nhi ứng, cố tụ dã.
Vương cách hữu miếu, trí hiếu hưởng dã. Lị kiến đại nhân, hanh, tụ, dĩ chính dã. Dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng, thuận thiên mệnh dã. Quan kì sở tụ nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ. Soán viết: Tụy tụ dã, thuận dĩ duyệt, cương trung nhi ứng, cố tụ dã. Tụy, nghĩa là nhóm đông được người. Theo về đức quẻ, Khôn có tính thuận, Đoài có tính duyệt, thuận với lòng người mà lòng người hòa duyệt, lại bậc trên có đức cương trung tức là Cửu Ngũ mà người ở dưới tất thảy ứng trợ cho.
Vì vậy nên nhóm được đông người. Vương cách hữu miếu, trí hiếu hưởng dã. Câu Vương cách hữu miếu là nói về phần tinh thần, tất phải chí thành chí kính, in như con cháu hiếu đem lòng chí hành chí kính mà hưởng tổ tiên vậy. Lị kiến đại nhân, hanh, tụ dĩ chính dã. Trong thì Tụy mà nhóm họp bằng cách chính đạo tất nhiên trong nhóm đó có đại nhân, bầy mà có người làm chủ thời nhóm được đông mà hanh thông vậy. Dụng đại sinh cát, lị hữu du vãng, thuận thiên mệnh da. Sở dĩ nói dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng là vì theo thì Tụy mà ứng phó cho hợp với thì, người nhóm đã đông, sinh sản đã nhiều thời về đường vật chất không thể keo xẻn được, vả công việc phát triển phải lo tiến hoài, chỉ là thuận đạo trời mà làm vậy.
Nghĩa chữ mệnh đây kiêm cả thì với đạo, thuận theo thì trời và đạo trời tức là thuận thiên mệnh. Quan kì sở tụ nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ. Xem đạo lí sở dĩ Tụy thời tình của thiên hạ vạn vật có thể thấy được, thiên địa có Tụy mới nên được công hóa dục, vạn vật có Tụy mới nên được việc hợp quần. Trái lại, chỉ tan tan, tác tác, ròi rời, rạc rạc, mỗi cái mỗi đường, mỗi người mỗi nơi, tất đến nỗi tương bội, tương hại, còn gì là tình thiên địa, vạn vật đâu.
Vậy nên, muốn thấy được tình thiên địa, vạn vật tất phải xem ở chốn Tụy vậy. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Trạch thượng ư địa, Tụy. Quân tử dĩ trừ nhung khí, giới bất ngu. Quẻ này dưới Khôn, trên Đoài. Khôn tượng là đất, Đoài tượng là nước chằm, nước chằm lên trên mặt đất, tượng là nước có chốn nhóm nên đặt tên quẻ bằng Tụy. Quân tử xem ở tượng quẻ Tụy mới nghĩ rằng: Hễ nhóm người lại đông thường sinh ra việc tranh nhau, vật nhóm lại nhiều, thường lo có lúc cướp nhau, nên muốn ngăn ngừa cho khỏi cái họa tranh cướp, tất phải trừ nhung khí, để giới bất ngu.
Trừ nghĩa là chứa nhóm, cũng có nghĩa là sửa sang; nhung khí là những đồ dùng vào việc binh; bất ngu là những sự biến chẳng ngừa mà nảy ra. Chứa nhóm sửa sang những việc binh, răn đe những sự biến chẳng ngừa mà nảy ra, cốt muốn được thường nhóm mà không tan đó vậy
Sáu Hào Của Quẻ Trạch Địa Tụy
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:有孚不終,乃亂乃萃,若號一握為笑,勿恤,往无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Hữu phu bẩt chung, nãi loạn nãi tụy, nhược hào, nhất ác vi tiếu, vật tuất, vãng vô cựu. Hào Sơ Lục này, chính ứng trên có hào Cửu Tứ: Tứ là dương cương, Sơ là âm nhu, cứ lẽ thời âm dương đáng tương đắc, tin cẩn nhau cho hữu thỉ hữu chung, nhưng vì thì Tụy ba âm nhóm nhau ở Nội Quái, Sơ Lục vì âm nhu chất nhược, giữ chính không được vững vàng, theo dua với hai hào âm mà làm cách nhóm tầm bậy, như thế thiệt là hữu phu bất chung. Có kẻ tin thật với mình mà mình không tin theo cho đến cùng đến nỗi rối loạn cách nhóm của mày (Chữ nãi trên là động từ; chữ nãi dưới là đại danh từ.
Nãi nghĩa là mày, chỉ vào Sơ Lục). Người mình đáng tụy mà mình không tụy, thế là nhóm bậy với bầy xằng là nãi loạn nãì tụy. Hào từ mới nghĩ giùm cho Sơ Lục một cách mà bảo rằng: Sơ kia ơi! Mày vẫn dở theo lầm bầy tiểu nhân, nhưng mày vẫn có chính ứng của mày kia mà, phỏng khiến mày biết dại mà hô hào chính ứng cùa mày, chắc có một tốp kia xúm nhau cười, nhưng mày thây kệ nó, chớ ái ngại gì, cứ giữ chủ nghĩa mình mà đi theo chính ứng thời không tội lỗi gì.
Nhất ác nghĩa là một xúm người là chỉ vào bầy nhị âm; Vật tuất là có ý như chẳng quản, nó có cười cũng kệ thây; vãng nghĩa là đi theo bạn dương cương. Tượng viết: Nãi loạn nãi tụy, kì chí loạn dã. Nguyên Sơ Lục với Cửu Tứ là sẵn có bạn tụy rất chính đáng; vì tâm chí Sơ quá nhu nhược, dễ cho bầy nhị âm rối loạn được, chí Sơ đã loạn thời nhóm có chính đáng nữa đâu, nên nói nãi loạn nãi tụy. PHỤ CHÚ: Từ nhược hào sắp xuống bốn câu là dạy vẽ cho Sơ Lục nhưng không chắc Sơ Lục đã làm được như thế, nên Tượng Truyện không nhắc đến bốn câu dưới
Hào 2 — Lục Nhị
Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六二:引吉,无咎,孚乃利用禴。
Phan Bội Châu chú giải:
Dẫn cát, vô cựu, phu nãi lị, dụng thược. Lục Nhị âm nhu mà trung chính, thượng ứng với Cửu Ngũ cũng dương cương, trung chính, hai hào trung chính ứng với nhau là một đám nhóm rất tốt trong thì Tụy, nhưng còn hiềm địa vị Nhị chen vào giữa nhị âm mà Nhị với Ngũ xa nhau nên thánh nhân mới răn cho rằng: Nhị ơi! Mày phải biết, người mà mày đã định tụy đó đủ đức dương cương, trung chính, mày nên dắt kéo bạn bầy mày để lên nhóm với Ngũ thời bản thân mày được tốt lành mà chúng bạn mày tất thẩy không tội lỗi.
Tuy nhiên, đạo Tụy cốt nhất là chí thành. Nếu Nhị lấy lòng chí thành và thượng ứng với Ngũ thời Ngũ cũng lấy chí thành mà hạ giao với Nhị, nhóm nhau bằng cách chí thành thời văn sức chẳng cần gì phiền, vật chất chẳng cần gì thịnh. Ví như chí thành tế thần mà dùng một cách đơn giản như lệ tế nhược là vừa xong. Nếu quả được tinh thành như thế thời có lẽ nhóm được cả thiên hạ, chẳng những Nhị với Ngũ nhóm với nhau mà thôi. Hào từ đây chỉ cốt có hai chữ, chữ “dẫn” với chữ “phu”.
Dẫn là thuộc về thủ đoạn, phu là thuộc về tinh thần. Lấy một mình mà dắt kéo cả trên dưới tởi nhóm với Cửu Ngũ là thủ đoạn rất hay. Trước khi chưa nhóm mà đức trung chính thành thực đã đủ cho người tin, đương khi đã nhóm mà trọng thành tín, giảm hư văn, càng khiến cho thiên hạ dốc lòng tín ngưỡng, đó là tinh thần rất tốt, đủ nghĩa cho cả hai chữ ấy nên được cát vô cựu. Tượng viết: Dẫn cát, vô cựu, trung vị biến dã. Lục Nhị vẫn ứng với Cửu Ngũ nhưng ở chen vào khoảng nhị âm, bây giờ dắt cả Sơ, Tam lên tụy với Ngũ, như thế là đức trung của Ngũ không bao giờ biến vậy.
Nếu đúc trung có biến thời còn dẫn được ai
Hào 3 — Lục Tam
Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六三:萃如,嗟如,无攸利,往无咎,小吝。
Phan Bội Châu chú giải:
Tụy như, ta như, vô du lị, vãng vô cựu, tiểu lẫn. Thông thường Tam với Thượng là tương ứng, nhưng Tam âm nhu, Thượng cũng âm nhu nên Tam có ý không khuynh hướng với Thượng, bởi vì địa vị Tam gần Tứ, Ngũ là hai hào dương cương nên Tam muốn cầu tụy với Tứ, Ngũ; nhưng Tứ đã ứng với Sơ, Ngũ đã ứng với Nhị thời họ đã có chính ứng của họ, lại thấy Tam là hạng người âm nhu, bất trung, bất chính nên Tứ, Ngũ chẳng thèm nhóm cùng. Tam muốn tụy nhóm bao nhiêu, lại càng âu sầu bấy nhiêu, chẳng có gì là tốt đâu (Chữ như là trợ ngữ từ).
Muốn tụy mà không được nên phải than thở. Như thế thời chỉ có một phương pháp: Ở Ngoại Quái có hào Thượng là bạn đồng loại với Tam vả lại ở vào vị tương ứng, Tam nên tấn lên cầu tụy với Thượng, cũng không tội lỗi gì. Bởi vì những người có thế lực đã không chịu ứng với mình mà có bạn cùng giao ở phương xa thời mình cũng nên kết nạp. Ở về thì Tụy mà như thế, Tụy có xấu thẹn chút đỉnh, nhưng về đạo lí phải, vẫn là vô cựu. Tượng viết: Vãng vô cựu, thượng tốn dã.
Hào từ bảo cho Tam: phải tấn lên theo hào Thượng là vì Thượng có tính tốn thuận, Tam vãng cầu với Thượng thời Thượng cũng thuận thụ mà ứng vậy
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:大吉,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Đại cát, vô cựu. Cửu Tứ có đức dương cương, vẫn là người tốt, nhưng sở xử lại vào vị âm, có hiềm vì bất chính, duy Tứ ở vào thì Tụy lại thân cận với Cửu Ngũ là hai hào đồng đức nên kẻ trên người dưới thảy khuynh hướng vào. Trên thời Cửu Ngũ, dưới thời quần âm, thảy xúm nhau nhóm ở trước Tứ; hoàn cảnh Tứ như thế, thời thế Tứ như thế, muốn cho được hoàn toàn mỹ mãn, há phải dễ đâu! Nên Hào từ răn rằng: Tất phải đại cát mới được vô cựu. Chữ đại cát là tạo nhân, chữ vô cựu là kết quả, nghĩa là: Trước đại cát, sau mới vô cựu, trái lại, bất cát thời hữu cựu.
Đại nghĩa là quy mô cho thiệt rộng lớn mà chớ chật hẹp; cát là hành động cho thiệt tốt lành mà chớ sai suyễn. Nếu có việc gì sai đạo trái lí, tất là nhóm không được chính, có làm gì được vô cựu nữa rư? Tượng viết: Đại cát vô cựu, vị bất đáng dã. Hào từ sở dĩ phải có bài răn là vì dương hào ở vào âm vị, vị đã bất đáng nên nghi không được cát chăng? Phải dặn cho rằng: Có được đại cát thời mới được vô cựu
Hào 5 — Cửu Ngũ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九五:萃有位,无咎。匪孚,元永貞,悔亡。
Phan Bội Châu chú giải:
Tụy hữu vị, vô cựu, phỉ phu, nguyên vĩnh trinh, hối vong. Quẻ này bốn âm khuynh hướng vào nhị dương, nhưng Tứ mới bước vào quẻ trên chứ chưa phải ở vào vị chí tôn, duy Ngũ đã có đức dương cương lại ở vị chí tôn làm một người nguyên thủ của thiên hạ, đức rất thịnh mà vị lại rất tôn, chắc người thiên hạ thảy nhóm vào mà không có gì là tội lỗi. Vì ở kề cạnh mình có Cửu Tứ, Tứ cũng là một người có giá trị trong thì Tụy, thế lực Ngũ e chưa chắc đã thống nhất được mà nhân tình thì Tụy cũng chưa dễ thống nhất.
Ngũ tuy hữu vị mà e còn có người chẳng tín phục, nhưng điều đó chẳng lo gì, vị đã sẵn rồi thời Ngũ chỉ nên tu đức thêm, đức mình làm cho xứng đáng vị nguyên thủ mà lại lâu dài trinh cố. Bất tức, tắc cửu; cửu, tắc trừng; trừng, tắc du viễn. Tinh thành đã đến nơi thời những người xưa kia chưa phục, bây giờ cũng thảy quy phục, chẳng còn việc gì phải ăn năn. Nguyên, vĩnh, trinh, ba chữ ba nghĩa: Nguyên nghĩa là làm cho xứng đáng người nguyên thủ; vĩnh nghĩa là lâu dài mà không nghỉ; trinh nghĩa là trinh chính vững bền.
Tượng viết: Tụy hữu vị, chí vị quang dã. Ở thì Tụy mà lại hữu vi như Cửu Ngũ: cớ sao còn phỉ phu? Là vì chí thành tín của mình chưa quang đại vậy. Nếu đã tả ra đức nguyên, vĩnh, trinh, thế là chí quang đại rồi, chắc không còn ai phỉ phu nữa
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:齎資(一作咨)涕洟,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Tê tư, thế di, vô cựu. Thượng Lục âm nhu ở vào trên hết thì Tụy mà lại thì Tụy đã đến cuối cùng, một người tư cách đã tiểu nhân mà lại xử vào thì vị như thế, muốn cầu tụy với ai mà không ai chịu tụy với mình, chỉ duy than thở khóc lóc mà không biết trách với ai. Tê tư nghĩa là than thở; thế nghĩa là khóc chảy nước mắc; di nghĩa là khóc chảy nước mũi. Tượng viết: Tê tư, thế di, vị an thượng dã. Thượng Lục ở về vị trên cao, nhưng vì tài đức quá hèn hạ, không thể ở an được dằm trên, đến nỗi tê tư thế di, chính là tình trạng của đức tiểu nhân như thế.
PHỤ CHÚ: Chữ vô cựu đây, với chữ vô cựu ở Thượng Cửu quẻ Cấu nghĩa in như nhau, vô cựu là kết quả xấu; còn vô cựu ở mọi hào ở các quẻ thời lại phần nhiều là thuộc về kết quả tốt. Tụy vẫn là một việc rất tốt trong loài người, vô luận quốc gia nào, dân tộc nào, xã hội nào, tất phải có nhóm họp đông mới làm nên mọi việc, vậy nên Quái từ nói rằng Tụy hanh mà sáu hào không thấy chữ hung, nhưng Quái hào toàn quẻ được chữ cát cũng chỉ có ba chữ là vì cớ sao?
Là vì trong sự nhóm họp thường có hai phương diện: Một phương diện là có tài chủ động mà nhóm được người, một phương diện là bị động mà nhóm hùa theo người. Phương diện chủ động là phần thiểu số, tất phải như Lục Nhị, Cửu Ngũ. Lục Nhị tuy vị còn thấp mà đức rất cao. Cửu Ngũ đức đã cao mà vị lại trỗi, chính như Quái từ nói rằng lị kiến đại nhân mới nhóm họp được người. Thứ nữa cũng phải như Cửu Tứ, tài đức đã khá tốt mà địa vị lại xử gần bậc chí tôn, uy quyền trong tay, hoàn cảnh lại thuận lị, cũng có thể nhóm họp được người, chính là thời thế tạo anh hùng, mới mong làm nên sự nghiệp Tụy.
Vậy nên, Cửu Nhị có chữ dẫn cát, Cửu Tứ có chữ đại cát; Cửu Ngũ có chữ hối vong. Nếu chẳng thế, vô vị như hào Sơ, hào Thượng, bán thượng lạc hạ như hào Tam mà lại tài đức chẳng hơn ai thời chẳng những không nhóm họp được người mà muốn nhóm họp theo người cũng gay go lắm. Vậy nên hào Sơ thời nói nãi loạn nãi tụy, hào Tam thời tụy như ta như, hào Thượng thời tê tư thế di; chúng ta mới biết có đức mà không vị vẫn không làm nên Tụy, có vị mà không đức lại càng không làm được nên Tụy.
Ở vào thì Tụy mà khó tụy như thế, há phải chỉ chắc ở thời thế mà không dòm vào tư cơ trí tuệ hay sao? Xem trong sáu hào mà chỉ hai hào có chữ cát, chúng ta sẽ hiểu
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Trạch Địa Tụy là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Trạch Địa Tụy Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 45 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Trạch Địa Tụy Là Gì?
Thượng quái là Đoài, tượng đầm; hạ quái là Khôn, tượng đất. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 萃: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Trạch Địa Tụy. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 44: Thiên Phong Cấu · Quẻ 46: Địa Phong Thăng


Hotline