Quẻ Hỏa Địa Tấn (晉) là quẻ số 35 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Ly (lửa), hạ quái là Khôn (đất). Tấn nói về tiến. Lửa ở trên đất tạo hình tượng ánh sáng hiện ra; các hào vẫn xét sự ngăn trở, lòng tin và cách tiến chứ không chỉ đồng loạt báo thuận lợi.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Hỏa Địa Tấn Là Gì?
| Số thứ tự | 35/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Hỏa Địa Tấn — 晉 |
| Thượng quái | Ly — Lửa |
| Hạ quái | Khôn — Đất |
| Hào dương | 2 |
| Hào âm | 4 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Khôn, ba hào sau tạo thượng quái Ly. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Hỏa Địa Tấn
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
晉:康侯用錫馬蕃庶,晝日三接。
Nguyên Văn Thoán Truyện
晉,進也。明出地上,順而麗乎大明,柔進而上行。是以康侯用錫馬蕃庶,晝日三接也。
Nguyên Văn Đại Tượng
明出地上,晉;君子以自昭明德。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Ly trên; Khôn dưới Quẻ này là quẻ Hoả Địa Tấn. Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Li thưởng cũng là Ngoại Li. Li hoả, Khôn địa, nên tên quẻ đọc bằng Hoả Địa Tấn. TỰ QUÁI Tự quái: Vật bất khả dĩ chung tráng, cố thụ chi dĩ Tấn, Tấn giả tiến dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đại Tráng tiếp lấy quẻ Tấn là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Đại Tráng, vật lí không lẽ đến tráng mà thôi. Hễ đã tráng thịnh thời tất nhiên tiến lên nên sau quẻ Đại Tráng, tiếp lấy quẻ Tấn. Tấn, nghĩa là tiến lên.
Theo về tượng quẻ, Li ở trên Khôn, tượng là mặt trời đã mọc lên trên đất. Mặt trời lên khỏi đất, càng lên cao càng thêm sáng, tượng như thế là tấn mạnh lắm nên tên quẻ đặt tên bằng Tấn. SOÁN TỪ Tấn, khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp. Tên quẻ này là quẻ Tấn, có nghĩa là tấn thịnh. Theo tượng quẻ thời Li minh ở trên. Khôn thuận ở dưới. Thế là xử ở đời Tấn thịnh. Người trên thời minh, người dưới thời thuận, quân thần tương đắc, như trong nước có một vị khang hầu là một bậc có tài giúp nước an dân nên vị quốc trưởng hết lòng tín nhậm, ân hậu lẽ sùng, trên dưới đồng tâm với nhau, dắt người trong nước lên con đường tấn thịnh nên nói rằng: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
Khang nghĩa là yên; khang hầu, nghĩa là ông hầu có tài an được nước; phồn thứ, nghĩa là đông nhiều; tích, nghĩa là cho; tích mã phồn thứ là ban thưởng cho người vừa đông vừa nhiều là ơn rất hậu đó vậy; trú nhật là thuộc về ban ngày; trú nhật tam tiếp là một ngày mà đến ba lần tiếp rước là lễ đại rất trọng vọng đó vậy. Quái từ ở đây không nói những chữ: hanh, cát, lị là cớ sao? Vì trong chữ Tấn đã ngậm hết ý hanh, cát, lị rồi. Thời đại đã vào lúc Tấn thịnh, còn phải nói hanh, cát, lị làm gì nữa, chỉ nói hiến tài giúp nước, vua chúa trọng hiển thần thời thấy được cái đạo nhân làm nên Tấn, không cần phải nói kết quả.
SOÁN TRUYỆN Soán viết: Tấn, tiến dã. Minh xuất địa thượng, thuận nhi lệ hồ đại minh, nhu tiến nhi thượng hành, thị dĩ khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp dã. Soán viết: Tấn, tiến dã. Đây là thích nghĩa tên quẻ. Tấn, nghĩa là tiến lên vậy. Minh xuất địa thượng, thuận nhi lệ hồ đại minh, nhu tiến nhi thượng hành, thị dĩ khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp dã. Mặt trời mọc ra khỏi đất là đức sáng soi dọi khắp thế giới, cảnh tượng rất vẻ vang. Người ở dưới có đức có thuận mà dựa vào bậc đại minh ( Đại minh là một vị quốc trưởng có đức thánh minh).
Kính Thư nói rằng: Nguyên thủ minh tai là thế. Trong quẻ có Lục Ngũ, nguyên hào giữa quẻ Càn biến làm hào nhu quẻ Tấn mà đi lên, ở vào địa vị Ngũ chính là địa vị quốc trưởng. Đủ các tượng ấy thời là có vị hầu yên nước, yên dân mà được vị nguyên thủ hết lòng kính lễ vậy, nên nói rằng: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Minh xuất địa thượng, Tấn. Quân tử dĩ tự chiếu minh đức. Chất sáng của mặt trời, tấn không bao giờ tắt, nhưng vì trái địa cầu che mất mặt trời mà buổi đêm không thấy được tia sáng; đức sáng của lòng người vẫn không bao giờ tắt, nhưng vì vật dục che lấp nên không thấy rõ được ánh sáng.
Quân tử xem tượng quẻ Tấn mà biết được đức minh vẫn sáng như mặt trời, duy phải ngăn cấm vật dục, khiến cho tự mình làm sáng suốt đức minh, cũng in như minh xuất địa thượn g thời đức minh càng ngày càng tấn mãi. PHỤ CHÚ: Tượng Truyện trong Dịch, duy quẻ Càn, quẻ Tấn có chữ tự, nghĩa là giữa bản thân làm lấy. Bắt chước Càn mà tự cường bất túc là công phu học của quân tử mà thuộc về phần trí tri, phần hành tất phải kiện được như thiên, phần tri tất phải minh được như nhật, hai việc đó tất tịnh tấn với nhau thời năng sự của quân tử mới là viên mãn, nhưng việc đó không phải ỷ lại vào người ngoài mà được đâu nên Tượng Truyện nói chữ tự
Sáu Hào Của Quẻ Hỏa Địa Tấn
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:晉如,摧如,貞吉。罔孚,裕无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Tấn như, tồi như, trinh cát, võng phu, dũ, vô cựu. Sơ Lục bản chất âm nhu mà địa vị ở dưới hết quẻ Tấn. Kẻ ứng với Sơ là Tứ lại bất trung chính, mình đã hù hạ mà gặp bạn lại không ra gì nên muốn tấn lên mà bị ngăn chẹt. Người mà gặp hoàn cảnh như thế thời nên thế nào? Duy kiên cố giữ lấy đạo chính thời kết quả cũng được tốt lành. Tuy nhiên, chính hay không chính là quyền tại mình; tin hay không tin là quyền tại người. Nên cũng có khi mình đã chính mà người chưa tin ( Võng phu: có người không tin mình).
Nếu tiểu nhân mà gặp lúc đó, nóng nảy chạy vậy để cầu người tin, hoặc đến nỗi đổi lòng biến tiết, tất nhiên có lỗi. Duy quân tử xử hoàn cảnh ấy thời tin hay không tin thây kệ người, mình cứ khoan thai thong thả, ra sức tự tu thân, như thế thời không tội lỗi. PHỤ CHÚ: Mạnh Tử có nói: Ái nhân bất thân, phản kì nhân; trị nhân bất trị phản kì tri. nghĩa là ta yêu người mà người không thân ta thời ta trở lại trách đức nhân của ta; ta trị người mà người không chịu trị thời ta trở lại trách đức trí của ta.
Đức Khổng Tử có nói rằng: Nhân bất tri nhi bất uẩn, nghĩa là võng phu, dũ. Tượng viết: Tấn như, tồi như, độc hành chính dã, dũ vô cựu, vị thụ mệnh dã. Người ta ở đời, trong một thời gian đầu, Tấn cũng chẳng lấy gì làm vui, dầu chưa Tấn cũng chẳng lấy gì làm buồn, duy một mình làm đạo chính mới là quân tử. Huống hồ Sơ Lục ở vào vị dưới hết, mệnh lệnh quân thủ của triều đình mình chưa nhận chịu bao giờ thời lại càng thung dụng tự tại lắm
Hào 2 — Lục Nhị
Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六二:晉如,愁如,貞吉。受茲介福,于其王母。
Phan Bội Châu chú giải:
Tấn như, sầu như, trinh cát, thụ tư giới phúc vu kì vương mẫu. Lục Nhị có đức trung chính, đáng lẽ Tấn được, nhưng vì ở trên không có người ứng viện với mình, chỉ mình tự tấn lấy thời cũng có ý khó khăn, nên lúc tấn mà không khỏi lòng riêng rầu rĩ, nghĩa là muốn tấn mà không lấy gì làm thuận thích. Tuy nhiên, Nhị sẵn có đức trung chính, chắc chẳng bao lâu danh vị cũng phải đến mình, chỉ duy lo giữ lấy đạo chính thời được cát. Khi cơ hội tốt đến rồi thời bạn đồng đức với Nhị là Lục Ngũ.
Ngũ ở địa vị nguyên thủ mà có đức đại minh, tất cần đến người đồng đức là Nhị mà đem vị lộc trao cho. Nhị đến lúc bấy giờ, in như người cháu đích tôn, đội nhờ được phúc lớn ở bà tổ mình vậy. Giới, nghĩa là lớn, vương mẫu, nghĩa là tổ mẫu là người đẻ ra cha mình. Quẻ này thời chỉ vào hào Lục Ngũ. Tượng viết: Thụ tư giới phúc, dĩ trung chính dã. Người ta làm điều phải chẳng lo gì không được phúc, nên đã có đức trung chính như Lục Nhị này tất nhiên có ngày thụ tư giới phúc.
Tư là đại danh từ, nghĩa là ấy chịu được phúc lớn ấy là vì có đức trung chính đó vậy
Hào 3 — Lục Tam
Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六三:眾允,悔亡。
Phan Bội Châu chú giải:
Chúng doãn, hối vong. Hào Lục ở vị Tam, theo như lệ quẻ khác là bất trung chính. Đã bất chính lại bất trung thời đáng lẽ là hữu hối. Duy ở thì Tấn, Tam âm ở dưới sẵn đồng lòng muốn Tấn mà Lục Tam lại ở trên hết thể Khôn thuận, nhị âm ở dưới đểu đồng chí với Tam, tin nhau dắt nhau mà lên, thuận tòng với một bậc đại minh, ấy là chúng doãn. Chúng nghĩa là đại đa số nhân; doãn nghĩa là tín cẩn. Đại đa số nhân đã tín cẩn thời có việc hối gì mà không tiêu một nửa đâu.
Người đời xưa có nói rằng: Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi, nghĩa là: Mưu việc theo lòng chúng thời hợp lòng trời. Tả Truyện có câu rằng: Dữ chúng đồng dục giả tế, nghĩa là với quần chúng đồng một lòng muốn cả thời việc tất nên. Tế nghĩa là nên, cũng có nghĩa là chúng doãn, hối vong vậy. Tượng viết: Chúng doãn chi chí, thượng hành dã. Chí ý của Lục Tam mà được chúng doãn là vì ba âm đồng một lòng với nhau thảy muốn tấn lên đó vậy
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:晉如鼫(一作碩)鼠,貞厲。
Phan Bội Châu chú giải:
Tấn như, thạch thử, trinh lệ. Hào Cửu ở vị Tứ, địa vị vẫn đã không đúng mà huống gì ở trên Tam, bầy âm ở dưới mình họ dắt nhau tịnh tấn, thanh thế đáng ghê mà Tứ này bất chính bất trung, dám ngồi ngôi cao trên họ, đã không lòng thối nhượng thời phải sợ tai họa mất ngôi, tham ăn mà lại sợ người, trong đời Tấn mà tấn một cách như con chuột đồng. Chuột đồng tính tham ăn mà hay sợ người, Tứ cũng in như nó. Nếu Tứ trung đồ biết cải quá tránh ngôi thời đương còn được an ổn.
Nhưng Tứ có biết thế đâu, cứ giữ chặt nết hư của mình, chắc nguy tới nơi. Chữ trinh ở đây chỉ có nghĩa trinh là bền giữ, không phải nghĩa trinh là chính. Tượng viết: Thạch thử trinh lệ, vị bất đáng dã. Cửu Tứ vẫn là người bất chính mà trộm ở vị cao, thiệt là đức bất xứng kì vị. Vị Tứ đã không đáng thời nguy là phải rồi nên Hào từ nói rằng thạch thử trinh lệ
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:悔亡,矢(一作失)得勿恤,往吉无不利。
Phan Bội Châu chú giải:
Hối vong thất đắc vật tuất, vãng cát, vô bất lị. Lục Ngũ làm chủ cho quẻ Tấn, có đức đại minh mà lại quần âm ở dưới, thảy thuận phụ với, ở thì Tấn mà lại nhiều người đồng đức với mình làm việc gì chắc cũng phải nên, nghĩa là không việc gì phải ăn năn. Tuy nhiên, Lục Ngũ là âm nhu, ở vào thì Tấn, cảnh ngộ quá chừng sung sướng, e có lòng tham đắc mà hoạn thất. Hễ thấy đạo lí đã đúng, cơ hội lại thuận thời cứ thẳng tay làm ngay. Thất bại rư? Thành công rư?
Chớ quá lo gì. Thất nghĩa là mất lợi; đắc, nghĩa là được công. Thất đắc, vật tuất có ý như ta thường nói may rủi thây kệ, mà sách xưa cũng có chữ thành bại bất kế. Nếu đã có đức đại minh mà lại có lòng định tĩnh như thế thời tấn hành chắc được tốt, không việc gì là chẳng thuận lị. Tượng viết: Thất đắc vật tuất, vãng hữu khánh dã. Có đức đại minh như Lục Ngũ quần hạ tất thảy thuận tòng. Nếu lại hay quên hết tư tâm mà thất đắc vật tuất thời tấn lên chẳng những đã hối vong mà lại có hạnh phúc nữa kia.
PHỤ CHÚ: Chữ tuất như nghĩa chữ ưu, nhưng vật tuất thời có hai nghĩa: Một là bất tất ưu, Cửu Tam quẻ Thái, Cửu Ngũ quẻ Gia Nhân, Sơ Lục quẻ Tụy, thảy là thuộc về nghĩa ấy, vật tuất nghĩa là bất tất quá lo. Lại một nghĩa nữa là bất đương ưu, Lục Ngũ quẻ Tấn này thuộc về nghĩa ấy, vật tuất chỉ là không nên lo
Hào 6 — Thượng Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上九:晉其角,維用伐邑,厲吉无咎,貞吝。
Phan Bội Châu chú giải:
Tấn kì giốc, duy dụng phạt ấp, lệ cát, vô cựu, trinh lẫn. Thượng Cửu ở trên quẻ, bản chất đã dương cương mà lại ở cuối cùng quẻ, chính là cương chi cực mà cũng tấn chi cực. Cương cực e không khỏi mắc lỗi bằng hung mạnh, tấn cực e không khỏi mắc vạ bằng đổ bể, ở vào thời đại Tấn mà quá cương, nhuệ tấn như thế có khác gì loài muông mạnh tấn mà chỉ tấn bằng sừng, nên thủ tượng bằng “ Tấn kì giốc “. Giốc là một giống cứng ở trên đầu. Hào Thượng Cửu ở trên hết quẻ nên thủ tượng bằng giốc, cương cấp quá như hào Thượng thời còn làm được việc gì lớn đâu, chỉ duy lo tự trì lấy phần riêng của mình mà thôi.
Tỉ như: Học trò thời chỉ vừa dạy riêng con em của mình làm quan thời chỉ vừa dạy bộ thuộc riêng của mình mà dầu người có quyền trị nước thời cũng chỉ vừa lo trừng trị những ấp riêng của mình. Như thế thời dầu có nguy nữa nhưng kết quả cũng tốt lành mà không tội lỗi. Bởi vì cách cương cực, tấn cực đem ra trì ngoại thời vẫn không xong, nhưng đem vào trì nội thời lại rất đúng. Tuy nhiên, ở về thời đại Tấn, chính là thì khả đại hữu vi mà vì tài chất hào Thượng, té ra chỉ vừa làm việc nhỏ mọn mà thôi.
Như thế thời tuy đắc chính cũng đáng xấu thẹn. Tượng viết: Duy dụng phạt ấp, đạo vị quang dã. Cảnh tượng thì Tấn chính như mặt trời đương lên mà vì Thượng Cửu thất ở quá cương, cương minh đến lúc cuối cùng, không khỏi soi dọi đến thiên hạ, chỉ dùng vừa phạt ấp mà thôi, tiếc cho đạo Tấn chưa lấy gì làm sáng lớn vậy
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Hỏa Địa Tấn là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Hỏa Địa Tấn Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 35 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Hỏa Địa Tấn Là Gì?
Thượng quái là Ly, tượng lửa; hạ quái là Khôn, tượng đất. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 晉: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Hỏa Địa Tấn. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 34: Lôi Thiên Đại Tráng · Quẻ 36: Địa Hỏa Minh Di


Hotline