Quẻ Thiên Phong Cấu: Sự Gặp Gỡ Và Điều Cần Phòng, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Thiên Phong Cấu số 44: Càn trên, Tốn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Thiên Phong Cấu (姤) là quẻ số 44 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Càn (trời), hạ quái là Tốn (gió). Cấu nói về gặp gỡ. Hình tượng một hào âm xuất hiện dưới năm hào dương là điểm được chú giải truyền thống lưu ý; lời quẻ phải được đọc trong hệ biểu tượng, không dùng để phán xét phẩm giá phụ nữ.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Thiên Phong Cấu Là Gì?

Số thứ tự 44/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Thiên Phong Cấu — 姤
Thượng quái Càn — Trời
Hạ quái Tốn — Gió
Hào dương 5
Hào âm 1

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Tốn, ba hào sau tạo thượng quái Càn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thiên Phong Cấu

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

姤:女壯,勿用取女。

Nguyên Văn Thoán Truyện

姤,遇也,柔遇剛也。勿用取女,不可與長也。天地相遇,品物咸章也。剛遇中正,天下大行也。姤之時義大矣哉!

Nguyên Văn Đại Tượng

天下有風,姤;后以施命誥四方。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Kiền trên; Tốn dưới Quẻ này là quẻ Thiên Phong Cấu. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Càn thượng cũng là Ngoại Càn. Càn thiên, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Phong Cấu. TỰ QUÁI Tự quái: Quảỉ giả quyết dã, quyết tất hữu sở ngộ, cố thụ chi dĩ Cấu, Cấu giả ngộ dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Quải tiếp lấy quẻ Cấu là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Quải, Quải, nghĩa là phán quyết. Hễ đã phán quyết xong rồi, tất biết được lành hay dữ, phải hay chăng, chắc có người mà gặp gỡ.

Vậy nên sau quẻ Quải, tiếp lấy quẻ Cấu. Cấu, nghĩa là đụng gặp. Theo về tượng quẻ, Càn là trời, Tốn là gió, Càn trên Tốn dưới, tượng là gió đi dưới trời, ở dưới trời tất thảy là vạn vật, gió đi tới đâu, thảy đụng chạm đấy, đó là một tượng mà thành được quẻ Cấu. Lại vì từ lúc vào quẻ Thuần Càn mà âm tiêu hết, bây giờ nhất âm mới sinh ở dưới hết, âm tình cờ mà đụng lấy dương, con gái tình cờ mà đụng lấy con trai, cũng là nghĩa cấu nên đặt tên quẻ bằng Cấu.

PHỤ CHÚ: Thầy Thiệu nói rằng: Quẻ Phục tiếp sau quẻ Bác thời biết rằng trị sinh ở thì loạn đó, mà Cấu tiếp sau quẻ Quải thời biết rằng loạn sinh ở thì trị đó mà. Vì vậy nên thánh nhân phòng bị ở khi việc chưa thấy. Quẻ Bác là quẻ năm âm bác một dương, dương bác chưa hết là đạo quân tử chưa tiêu hết, chốc tiếp sang Phục là một dương lại sinh thời là đạo quân tử đã toan trưởng rồi. Quẻ Quải là quẻ năm dương quyết một âm, âm quyết chưa được hết, cũng là tiểu nhân chưa trừ được sạch, vừa bắt liền sang Cấu thời nhất âm đã lù ra rồi, cũng là tiểu nhân đã nảy ra rồi.

Thế mới biết cơ trời vận nước quan hệ ở tiểu nhân, quân tử đắp đổi thịnh suy, nhưng quân tử thời khó vun trồng mà tiểu nhân thời dễ nảy nở. Nếu xét thấu đến Dịch lí thời ghê tởm biết dường nào. SOÁN TỪ Cấu, nữ tráng, vật dụng thú nữ. Quẻ này là quẻ nhất âm mới sinh ở dưới mà đụng gặp ngũ dương, ngũ dương ở trên mà nhất âm gánh đỡ nổi; âm tượng là gái, một gái mà gánh đỡ nổi năm trai, ấy thiệt cường tráng lắm. Tòng lai, thường lí trong thiên hạ chỉ một gái địch nổi một trai, bây giờ một gái địch nổi năm trai, ấy là thể phách rất hung mạnh mà đức tính lại cực kì bất trinh, quân tử ở thì Cấu, xin chớ khinh rẻ hững hờ mà lấy phải hạng gái như thế là bởi vì lấy phải hạng gái như thế chỉ là làm hại cho trai mà thôi.

PHỤ CHÚ: Chữ nữ tráng và chữ thú nữ, chẳng qua thánh nhân xem ở tượng quẻ, vì có một hào âm mới, thành được quẻ Cấu. Nếu không một hào âm ấy thời là quẻ Thuần Càn. Thế là nhất âm tuy thỉ sinh mà làm chủ cho quẻ cấu. Xem ở hiện tại thời âm tuy còn hèn, nhưng nghĩ đến tương lai thời âm chắc tiến thạnh, thánh nhân lo cho thế đạo, muốn lấy thiên đạo mà suy đến nhân đạo nên lấy chữ nữ thay chữ âm, kì thực thánh nhân chẳng phải chuyên dạy cho người ta bằng việc lấy vợ mà thôi.

Theo ở lí Kinh Dịch, âm là nữ mà chính là tiểu nhân, chúng ta nên hội ý của thánh nhân mà thích Quái từ rằng: Cấu, tiểu nhân tráng, vật dụng thân tiểu nhân. Chữ nữ thay làm chữ tiểu nhân, chữ thú thay làm chữ thân, nghĩa là, một đứa tiểu nhân, dám đương địch với năm quân tử, chà chà dữ mạnh biết dường nào! Chớ thân tín những hạng ngườì ấy mà nguy hiểm. Nếu thấy chữ nữ mà chỉ học nữ là con gái, còn gì là tinh lí của Dịch nữa đâu! Chẳng những quẻ cấu mà thôi, thảy suốt sáu mươi tư quẻ nên học bằng cách ấy.

Soán viết: Cấu, ngộ dã, nhu ngộ cương dã; vật dụng thú nữ, bất khả dữ trường dã. Thiên địa tương ngộ, phẩm vật hàm chương dã; cương ngộ trung chính, thiên hạ đại hành dã. Cấu chi thì nghĩa đại hĩ tai. Soán viết: Cấu, ngộ dã, nhu ngộ cương dã. Cấu nghĩa là đụng gặp, nhất âm mới sinh, vừa đụng gặp ngũ dương. Thế là nhu gặp cương vậy. Vật dụng thú nữ, bất khả dữ trường dã. Quái từ nói rằng: Vật dụng thú nữ, bởi vì nhất âm là thuộc về loài tiểu nhân, tiểu nhân đã có thế tiệm thịnh thời nên mau xa tránh nó, không nên với nó tính việc lâu dài được, đây chỉ thích lời quẻ.

Thiên địa tương ngộ, phẩm vật hàm chương dã. Đức Khổng Tử xem ở tượng quẻ mà đặt ra nghĩa khác, không theo nghĩa Quái từ. Khí dương thuộc về trời, khí âm thuộc về đất, âm dương đã hội ngộ với nhau thời vạn vật nhờ đó mà sinh trưởng, loài gì thức ấy thảy được phát đạt rõ ràng, ấy là thiên địa tương ngộ thời phẩm vật được hàm chương ( Hàm nghĩa là tất thảy; chương nghĩa là rực rỡ). Cương ngộ trung chính, thiên hạ đại hành dã. Lại theo như đức quẻ, Cửu Ngũ ở Ngoại Quái có đức dương cương mà lại đúng vị trung chính, đức đã thịnh mà lại gặp được vị tôn, chắc là đạo quân tử đại hành được khắp cả thiên hạ.

Chữ đại ở đây chỉ về dương cương, đạo dương cương lưu hành phát triển được nên nói rằng đại hành. Theo thể quẻ thời là âm sinh, Soán Truyện lại nói riêng bằng Cửu Ngũ mà mừng cho dương cương được tôn vị, ấy là nghĩa phù dương ức âm của Khổng Tử; dương là quân tử, quân tử đắc vị là một việc đáng mừng cho thế đạo, nên có lời tán rằng thiên hạ đại hành. Cấu chi thì nghĩa đại hĩ tai. Thiên địa có gặp nhau thời phẩm vật mới hàm chương, dương cương gặp vị trung chính thời thiên hạ mới thấy được đại hành.

Suy cho đến mọi việc rất nhỏ, Nhân với mã có tương đắc thời mới dong ruổi được dường xa; thợ với khí có tương đắc thời bách công mới thành tựu, chẳng một việc gì mà chẳng cần có đụng gặp, như thế là thì với nghĩa của Cấu, thiệt rất lớn vậy thay nên lại tán rằng Cấu chi thì nghĩa đại hĩ tai! PHỤ CHÚ: Cấu chi thì mà lại phải thêm vào chữ nghĩa, bởi vì quẻ Cấu là quẻ nhất âm sinh, âm từ đó mà tiến lên lần lần thời hai âm thành ra Độn, ba âm thành ra Bĩ, dần đến năm âm thành ra Bác, thiệt là một thì tiết rất đang lo, chẳng lấy gì mà đáng tán tụng được, tất phải lấy bằng nghĩa chữ Cấu, chỉ giảng rằng Cấu, nghĩa là đụng gặp, thời quan hệ với nhân sự lại rất nhiều; nhỏ từ vợ chồng gặp nhau, bạn bầy gặp nhau, thầy trò gặp nhau, lớn đến thánh hiền hào kiệt gặp nhau, mới làm nên sự nghiệp quốc gia xã hội, rước được hạnh phúc cho dân tộc dân sinh, như thế là nghĩa Cấu to lớn lắm nên nói rằng thì nghĩa.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Thiên hạ hữu phong, Cấu. Hậu dĩ thì mệnh cáo tứ phương. Ở dưới trời có gió, gió đi tới đâu đụng chạm muôn vật, ấy là tượng quẻ Cấu. Những bậc quân trưởng xem tượng ấy mà thi hành mệnh lệnh, cáo dụ hiểu thị khắp vạn phương, cũng in như gió đi khắp dưới trời. Gió là hiệu lệnh của trời, mệnh là hiệu lệnh của hậu. Hậu là người nguyên thủ trong một nước. Tượng Truyện lại lấy bằng tượng quẻ mà không lấy bằng nghĩa quẻ, với ý âm ngộ dương tuyệt vô quan hệ, lời các Tượng Truyện phần nhiều như thế, đó cũng là nghĩa biến dịch ởố trong Kinh văn mà cũng là lẽ biến dịch trong Dịch lí

Sáu Hào Của Quẻ Thiên Phong Cấu

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初六:系于金柅,貞吉,有攸往,見凶,羸豕,孚,蹢躅(一作𨅙𨄃)。

Phan Bội Châu chú giải:

Hệ vu kim nị, trinh cát; hữu du vãng, kiến hung, luy thỉ phu trịch trục. Quẻ này nguyên là quẻ Càn, Càn là quẻ thuần dương, dương biến ra âm mà hóa ra hào Sơ Lục nên thành ra quẻ Cấu. Vì thế cho nên bản thân Sơ tuy là nhỏ mọn nhưng có thế lực âm ngầm, thế nào cũng đến ngày trưởng thịnh, quan hệ với thế đạo rất lớn. Quân tử ở về thì Cấu tất phải biết âm có cơ trưởng lần, chúng ta tất phải ngăn đón ở lúc mới sinh, nhổ cỏ phải nhổ từ khi cỏ mới mọc, đốn tre phải đốn từ khi tre mới măng, chính giữa lúc tiểu nhân mới ra đời thời quân tử càng nên chú ý lắm, nên Hào từ đặt ra làm hai nghĩa mà răn đe cho quân tử.

Một nghĩa, hệ vu kim nị, trinh cát ( Nị là cái đồ để hãm xe; kim nị là lấy sắt làm nị là một giống rất kiên cường, xe đi mà đụng nó hãm lại thời xe không đi được nữa; hệ: trói), bảo cho quân tử rằng: Phải dùng một cách mà ngăn bọn tiểu nhân, cố làm cho nó không lên được, tượng như hệ vu kim nị, nghĩa là trói xe vào cái kim nị; ngăn tiểu nhân được bền chặt như thế thời đạo trinh của quân tử mới được tốt lành. Trái lại, lỡ hụt tay mà để cho nó tiến lên được, tất nhiên thấy chuyện xấu ngay.

Bốn câu trên kia là một nghĩa chính, một nghĩa phản. Theo về nghĩa chính thời hệ vu kim nị mà trinh cát, ấy là hạnh phúc cho quân tử. Theo về nghĩa phản thời hữu du vãng mà kiến hung thời tai họa cho quân tử. Thánh nhân nói đến đó, nhưng còn e tởm cho Sơ Lục nên lại nói thêm rằng: Một đứa tiểu nhân kia tuy còn nhỏ mọn, nhưng các người chớ nên khinh thường nó, nó mới ra đời chưa lấy gì làm mạnh, nhưng quyết có ngày nhảy nhót lung tung, in như con heo gầy mà vẫn cố nhảy nhót.

Luy nghĩa là hèn yếu; thỉ nghĩa là con heo; phu nghĩa là quyết hẳn; trịch trục nghĩa là nhảy nhót. Con heo tuy còn yếu gầy, nhưng quyết hẳn có ngày sẽ nhảy nhót. Cầu ấy là bảo Sơ Lục tuy còn yếu, nhưng có ngày thịnh mà làm hại quân tử, quân tử phải để ý ngăn ngừa mới được. Tượng viết: Hệ vu kim nị, nhu đạo khiên dã. Vì đạo âm nhu dương dắt kéo nhau lên thời quân tử phải lo đón trước, mà cách đón nó, phải cho cực kì bền chặt, nên nói rằng hệ vu kim nị là sợ nhu đạo khiên đó vậy.

Khiên nghĩa là dắt kéo nhau mà lên. PHỤ CHÚ: Lời trong Kinh văn toàn là ngôn thiển ý thâm, như Hào từ này chỉ bày vẽ cho quân tử mà gấp ngăn đón bọn tiểu nhân. Nhưng thâm ý của thánh nhân chẳng những kiêng sợ quân tử, tiểu nhân ở hình thức mà thôi, mà kiêng sợ thứ nhất lại là quân tử, tiểu nhân ở tinh thần. Quân tử ở tinh thần là gì? Tức là thiên lí. Tiểu nhân ở tinh thần là gì? Tức là nhân dục. Há phải quốc gia xã hội có tiểu nhân, quân tử thôi đâu mà chính giữa thân ta thời quân tử, tiểu nhân lại càng ghê tởm lắm.

Hễ có một tư tưởng gì đúng với thiên lí, tức là quân tử. Hễ có một tư tưởng gì xây về tình dục, tức là tiểu nhân. Chúng ta muốn ngăn đón tiểu nhân trong thân ta tất phải hết sức ngăn đón nhân dục. Tai hại thuộc về nhân dục e còn thậm hơn luy thỉ phu trịch trục; chỉ duy hệ vu kim nị thời chúng ta nghĩ bằng cách gì. Phàm ai đọc đến Kinh văn phải nghĩ đến ý ấy

Hào 2 — Cửu Nhị

Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九二:包有魚,无咎,不利賓。

Phan Bội Châu chú giải:

Bao hữu ngư, vô cựu, bất lị tân. Ở vào thì Cấu là chú trọng về cách gặp nhau. Cửu Nhị mật thiết với Sơ, Sơ vẫn là tiểu nhân trong thì Cấu, nhưng vì Nhị có đức cương trung, tuy có đụng gặp Sơ mà Nhị có tài chế ngự được tiểu nhân. Sơ tiểu nhân mặc lòng, nhưng cũng bị nhốt vào tay Nhị bao bọc, Nhị chế ngự được Sơ thời Sơ cũng phải phục tòng với Nhị, tượng như Sơ là một con cá mà Nhị đùm bọc được thật chặt, cá không thể nhảy ra được. Như thế, vẫn không tội lỗi gì.

Tuy nhiên, Sơ là tiểu nhân khéo léo bợm bậy, duy tài đức Nhị mới bọc được Sơ, chỉ nên giữ nó ở bên cạnh mình, không nên thả nó ra mà dụng gặp phải người khác, sợ cho người khác không tài đức như Nhị. Nếu đụng lấy Sơ thời chắc bị Sơ quyến rũ mất. Bất lị tân, nghĩa là chỉ gần Nhị thời không hề gì, chứ không nên cho nó gặp khách khác nữa. Tượng viết: Bao hữu ngư, nghĩa bất cập tân dã. Sơ, nguyên là chính ứng với Tứ nhưng Tứ với Sơ còn cách nhau xa, vả tài Tứ lại thua Nhị, nên Nhị bao bọc được Sơ.

Nếu Sơ lại đụng gặp Tứ tất trái nghĩa Cấu nên nói rằng bao hữu ngư, nghĩa bất cập tân dã là nghĩa Cấu của Nhị, Nhị đã gặp Sơ thời Sơ cũng nên chuyên nhất vào Nhị, nghĩa là Sơ không nên gặp khách khác nữa vậy ( Tân là chỉ vào hào Tứ)

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:臀无膚,其行次且,厲,无大咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Đồn vô phu, kì hành từ thư, lệ, vô đại cựu. Theo lẽ thường, âm với dương không ưa nhau mà toàn quẻ duy Sơ là âm nên anh nào cũng diệt Sơ, nhưng vì Nhị đã gặp Sơ rồi nên Tam không gặp được Sơ nữa, Tam là người quá cương bất trung, đã không gặp được Sơ, cũng chẳng chịu ngồi an phận, muốn lên ứng với Thượng thời Thượng lại không phải người ứng với mình, thành ra lóng ngóng vất vả, ngồi không an ngồi, đi không xong đi, tượng như bàn trôn không thịt, ngồi đã không an, muốn đứng dậy đi thời nước đi lại khấp khểnh.

Nhưng còn may Tam vẫn dương cương mà đắc chính, chắc không lẽ mê mẩn hoài. Nếu biết thế là nguy cụ mà thủ phận an thân thời không tội lỗi gì lớn. Tượng viết: Kì hành từ thư, hành vị khiên dã. Cửu Tam: sở dĩ kì hành từ thư là vì dưới không gặp được Sơ, trên không ứng được Thượng, dầu có đi ra, cũng chẳng ai khiên dẫn mình vậy

Hào 4 — Cửu Tứ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九四:包无魚,起凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Bao vô ngư, khởi hung. Chữ Ngư ở đây cũng chỉ vào hào Sơ, Sơ vẫn là chính ứng với Tứ, có lẽ đáng gặp nhau; nhưng vì Sơ đã gặp Nhị, Nhị đã thu nạp được Sơ thời Tứ hỏng mất phần, nên nói rằng bao vô ngư, tượng như một con cá ấy đã lọt vào bọc Nhị thời trong bọc Tứ có cá đâu nữa. Nguyên lai Tứ là người ở vị trên, Sơ là người ở vị dưới, người ở trên không thu phục được người dưới chẳng phải là quan mất dân, thầy mất trò, vợ mất chồng hay sao?

Làm người trên mà để đến nỗi người bỏ mình, e chẳng bao lâu tất có tai nạn phát sinh. Tượng viết: Vô ngư chi hung, viễn dân dã. Vô ngư mà mắc lấy hung chỉ vì mất đạo làm kẻ trên mà đến nỗi tự tuyệt với dân đó vậy. Chữ viễn đây là động từ, cũng như chữ viễn tiểu nhân. Theo như tượng quẻ vẫn âm là tiểu nhân mà tiểu tượng lại lấy riêng một nghĩa. Viễn tiểu nhân thời hay mà viễn dân thời dở, nghĩa Dịch biến hóa không chấp nhất là như thế

Hào 5 — Cửu Ngũ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九五:以杞包(一作苞)瓜,含章,有隕自天。

Phan Bội Châu chú giải:

Dĩ kỉ bao qua, hàm chương, hữu vận tự thiên. Kỉ là tên một thứ cây, cây cao mà lớn, có thể che bọc được các cây nhỏ; qua là cây dưa, thuộc loài âm mà ở dưới thấp, có dây hay mọc leo vào cây to. Cửu Ngũ có đức dương cương, trung chính, lại ở vào vị nguyên thủ trong một nước. Vì đức tốt mà ở vị cao, biết hay khuất kỉ hạ hiền nên quần dương giúp đỡ mà phòng ngự được tiểu nhân là Sơ Lục, tượng như lấy cây kỉ mà che bọc cây dưa. Kỉ thí dụ bằng Ngũ là người có tài đức ở ngôi cao; qua tỉ dụ bằng Sơ là tiểu nhân ở dưới thấp.

Ngũ có tài đức như thế, lại hay chứa ngậm đức tốt trong, chẳng khoe khoang lòe loẹt với người. Đạo người đã rất tốt thời lòng trời phải chiều nghe, cơ hội nay bỗng chốc xui khiến mà sự nghiệp lớn thình lình tới trước mặt, ví như: tự trên trời nảy xuống. Vận, nghĩa là sa nảy. Hữu vận tự thiên là hình dung thì vận tốt, chứ chẳng phải sự thực đâu. PHỤ CHÚ: Quẻ này nguyên là quẻ Càn, vì Sơ dương hào biến động mà hóa ra âm hào thành ra quẻ Cấu. Bản thân hào Sơ trước vẫn tiềm long ở quẻ Càn, khi vào Cấu thời lại hóa ra luy thỉ.

Một người vì hoàn cảnh thay đổi mà thiện, ác xa nhau đến như thế, chúng ta muốn cải lương nhân cách mà không lo cải lương hoàn cảnh xấu thời thế đạo làm sao khỏi có tiểu nhân? Hoàn cảnh xấu là vì sao? Là vì những chế độ bất lương của xã hội, may thay ở thì Cấu này mà còn có Cửu Ngũ dương cương, trung chính, nguyên trước là ở vị phi long quẻ Càn, bốn bạn dương nhờ Ngũ dắt díu, một hào Sơ âm bị Ngũ chế ngự mà cơ họa chuyển làm phúc, vận trời phải chiều người.

Hào từ nói: Hữu vận thiên, tuy không được như phi long tại thiên, nhưng vẫn hân hạnh cho thế đạo nhân tâm; may mà có Cửu Ngũ nên nhân sự vãn hồi được khí số, há phải ngẫu nhiên đâu. Tượng viết: Cửu Ngũ hàm chương, trung chính dã, hữu vận tự thiên, chí bất xả mệnh dã. Cửu Ngũ ngậm chứa được đức chương mỹ, há phải văn minh vỏ đâu mà chỉ đức trung chính đó vậy. Hữu vận tự thiên cũng chẳng phải chuyên ỷ vận trời, chỉ vì tâm trí cùa người không chống trái với đạo trời vậy. Mệnh nghĩa là đạo trời; xả cũng như nghĩa chữ vi, trên Văn Ngôn quẻ Càn đã có câu tiên thiếu nhi thiên phất vi; bởi vì mình phát vi thiên nên thiên phất vì mình.

Vi cũng có nghĩa là trái

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:姤其角,吝,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Cấu kì giác, lẫn, vô cựu. Thượng Cửu chí cương mà ở trên hết quẻ, thí dụ bằng hình giống thú thời hào Thượng này là cái sừng, nên nói rằng: Cấu kì giác, nghĩa là ở vào thì Cấu chỉ dùng bằng cách cương trường ở trên, Cấu không nhằm cách, tất nhiên chúng phản thân li, như thế thời mang lấy xấu hổ mà không trách lỗi ai được nữa. Chữ vô cựu đây, khác với chữ vô cựu ở mọi nơi. Vô cựu ở đây nghĩa là vô sở quy cựu, bởi vì tội lỗi mình làm ra nên không trách được ai.

Tượng viết: Cấu kì giác, thượng cùng lẫn dã. Cấu kì giác là vì Thượng Cửu này cương quá mà lại ở cuối cùng thì Cấu, Cấu đã đến cuối cùng, chỉ mang lấy xấu mà thôi. PHỤ CHÚ: Theo về lí Dịch thời âm dương vẫn tương đối, dương chẳng phải tuyệt đối tốt mà âm cũng chẳng phải tuyệt đối xấu, chỉ tranh nhau thì với vị, trung hay bất trung, chính hay bất chính mà tốt xấu mới khác nhau. Hào Sơ quẻ này một âm mà gánh đỡ năm dương, chẳng khác gì một vợ lấy năm chồng, một tớ mà thờ năm chủ, thiệt là một đứa tiểu nhân bại hoại đến cực điểm, nên năm dương trên thảy dòm vào Sơ làm tốt xấu.

Hễ ai hạn chế được Sơ thời tốt, nhưng trong phép hạn chế Sơ thời cốt có lượng bao dung, có đức trung chính, nên Cửu Ngũ, Cửu Nhị thảy có dùng chữ bao. Vì hai hào ấy có đức cương trung nên Sơ không dám khinh lòn và oán hận gì. Sở dĩ bao hữu ngư thuộc về Cửu Nhị, bao qua thuộc về Cửu Ngũ, trì tiểu nhân mà khôn khéo như thế, còn sợ gì tiểu nhân đâu. Kìa Cửu Tam vì quá cương bất trung, Cửu Tứ vì bất trung, bất chính nên tiểu nhân bất phục. Hễ tiểu nhân đã bất phục thời không thể tốt lành, nên Cửu Tam đồn vô phu, Cửu Tứ bao vô ngư.

Vậy mới biết, trong đời không thể không tiểu nhân, nhưng phải biết thủ đoạn trì tiểu nhân thời tuy có đụng gặp tiểu nhân, cũng không hại gì. Duy có một nghĩa chúng ta nên chú ý, chế trị tiểu nhân tất phải phòng bị ở lúc mới manh nha nên toàn quẻ Cấu chỉ có một chữ cát mà chữ cát lại phải ở dưới câu hệ vu kim nị, ý thánh nhân sâu xa biết dường nào! Nếu ở lúc Sơ mà không biết hạn chế, chờ đến lúc cuối cùng mới toan cạy cọ thời chỉ như Thượng Cửu Cấu kì giác, lẫn mà thôi.

Ở hào Sơ quẻ Khôn thời đã báo cho rằng lí sương kiên băng chí; ở hào Sơ quẻ Cấu thời vội bảo rằng hệ vu kim nị trinh. Thì tuy khác nhau mà thận thỉ phòng vi, ý in như nhau

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thiên Phong Cấu là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Thiên Phong Cấu Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 44 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thiên Phong Cấu Là Gì?

Thượng quái là Càn, tượng trời; hạ quái là Tốn, tượng gió. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 姤: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thiên Phong Cấu. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 43: Trạch Thiên Quải · Quẻ 45: Trạch Địa Tụy

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline