Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá (小過) là quẻ số 62 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Chấn (sấm), hạ quái là Cấn (núi). Tiểu Quá nói về sự vượt ở mức nhỏ. Lời quẻ nêu có thể làm việc nhỏ, không thể làm việc lớn, cùng hình tượng chim bay để nhấn mạnh điều thích hợp ở dưới hơn ở trên.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá Là Gì?
| Số thứ tự | 62/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Lôi Sơn Tiểu Quá — 小過 |
| Thượng quái | Chấn — Sấm |
| Hạ quái | Cấn — Núi |
| Hào dương | 2 |
| Hào âm | 4 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Cấn, ba hào sau tạo thượng quái Chấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
小過:亨。利貞。可小事,不可大事。飛鳥遺之音,不宜上宜下,大吉。
Nguyên Văn Thoán Truyện
小過,小者過而亨也。過以利貞,與時行也。柔得中,是以小事吉也。剛失位而不中,是以不可大事也。有飛鳥之象焉,有飛鳥遺之音,不宜上宜下,大吉;上逆而下順也。
Nguyên Văn Đại Tượng
山上有雷,小過;君子以行過乎恭,喪過乎哀,用過乎儉。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Chấn trên; Cấn dưới Quẻ này là quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Lôi Sơn Tiểu Quá. TỰ QUÁI Tự quái: Hữu kì tín giả, tất hành chi, cố thụ chi dĩ Tiểu Quá. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Trung Phu tiếp lấy quẻ Tiểu Quá là vì cớ sao? Trưởc kia là quẻ Trung Phu. Phu nghĩa là tin, cậy ở nơi mình tin đó mà tất cứ làm ngay làm mà không xét cái tin đó phải hay chăng, tất mắc lấy lầm lỗi.
Vậy nên, sau quẻ Trung Phu, tiếp lấy quẻ Tiểu Quá. Ý nghĩa sở dĩ đặt tên bằng Tiểu Quá thời xem ở Soán từ, Soán Truyện sau này đã thích minh bạch. SOÁN TỪ Tiểu Quá, hanh, lị trinh. Khả tiểu sự, bất khả đại sự, phi điểu đi chi âm, bất nghi thượng, nghi hạ đại cát. Tiểu Quá, hanh, lị trinh. Chữ Tiểu Quá có ba nghĩa: Một nghĩa là cái nó có ý quá; lại một nghĩa là việc nhỏ có quá; lại một nghĩa là quá chút đỉnh. Chữ Quá có hai nghĩa: Một nghĩa Quá là quá, như nói rằng quá hậu, quá bạc, quá lớn, quá nhỏ, v.v.
Lại một nghĩa Quá là lỗi, như nói quá thất, quá ngộ, quá cựu, v.v, nhưng ở Quái từ đây thời không dùng nghĩa Quá là lỗi mà dùng nghĩa Quá là quá. Quẻ Tiểu Quá này phản đối với quẻ Đại Quá, bởi vì đạo lí trong thiên hạ có việc nên quá mà đúng thì nên lấy Đại Quá làm hay, nhưng cũng có việc mà đúng thì chỉ Tiểu Quá là hay. Tỉ như, đương hồi phải bí mật, hoặc việc phải bí mật thời lấy thành tích nhỏ quá làm hay; đương hồi nên tiết kiệm, hoặc việc nên tiết kiệm thời lấy tiêu phí nhỏ quá làm hay.
Chỉ duy cân nhắc ở thì với việc, thì đúng như vậy, việc nên như vậy mà ta ứng phó bằng cách Tiểu Quá mới được trơn bọt lọt lạch, vừa sóng vừa thuyền mà tới đâu cũng hanh thông được. Lại tỉ như, đi một lối đường, vì trước thiên về quá Tây, bây giờ nhích lại quá Đông, thế là vừa đúng chính giữa đường. Lại tỉ như, giảng một lí luận, người kia xu hướng về cực tả mà người này nhích qua cực hữu, thế là vừa đúng giữa trung bình. Vậy nên, quá chẳng phải là đạo thường, nhưng theo về đạo biến thời cũng nhiều khi có quá mới hanh, chỉ duy phận lượng quá đó, không quá được nhiều được lớn, chỉ quá chút đỉnh là vừa hay.
Vậy nên nói rằng: Tiểu Quá hanh. Tuy nhiên, đạo lí tốt nhất là đắc trung, quá cũng là việc bất đắc dĩ nên phải quá bằng một cách vừa chính. Quá mà vừa đúng với đạo chính thời quá ở chính là quá mà hay. Trái lại, nếu Quá mà bất chính là quá ở tà, chút quá đã là dở hoắc. Vậy nên Quái từ lại nói lị trinh, nghĩa là quá bằng chính thời mới lị. Trình Truyện có câu: “Bất thất thì nghi chi vị chính” nghĩa là, không trái với lẽ phải trong thì ấy là gọi bằng chính, chính tức là trinh.
Khả tiểu sự, bất khả đại sự, phi điểu duy chi âm, bất nghi thượng, nghi hạ đại cát. Việc trong thiên hạ hay dở cốt ở thì, vì xê xích cho đúng với thì, nên có khi phải quá chút đỉnh, nhưng chỉ dùng cách quá ấy vào chuyện nhỏ, không nên dùng cách quá ấy vào chuyện lớn. Bởi vì những việc nhỏ ấy, thì gian ngắn ngủi, phạm vi chật hẹp, dầu có quá chút đỉnh mà việc vừa đúng với thì thời quá mới có thể hanh thông được. Kìa những việc lớn, thì gian đã lâu dài, phạm vi đã rộng lớn, nếu sai một ly thời sợ lầm đến một dặm mà há lẽ làm quá được rư?
Tỉ như, đối với vợ con mà quá ở nghiêm thời đạo trì gia vẫn cũng tốt; nếu đối ư nhân dân quá ư khắc thời ảnh hưởng đến chính trị rất lớn. Đối với bản thân mà quá ư kiệm thời đạo trì kỉ là hay; đối với việc công chúng lị ích mà quá ư kiệm thời duy độc với xã hội e không chừng, như những loài ấy thảy là khả tiểu sự, bất khả đại sự. Trên đây là thông luận về đạo Tiểu Quá, nay lại bàn riêng về cách quá của người ở thì Tiểu Quá. Thì Tiểu Quá là thì thế nào?
Theo như tượng quẻ hào Ngũ, hào Nhị âm nhu mà lại đắc trung, hào Tam, hào Tứ dương cương mà thất vị, chính là thì tiểu nhân dụng sự, quân tử thất thì, nên quân tử xử thì ấy phải kiệm đức từ danh, tiếng tăm lớn không nên đua, chức vị cao không nên ở, tượng như con chim bay, vừa bay vừa kêu, có rơi tiếng xuống cho người ta nghe, nhưng nghe chẳng bao xa mà người cũng không thấy chim được rõ. Thân mình sở xử không nên chiếm ngôi cao, chỉ nên ở ngôi thấp, ở về thì Tiểu Quá mà giấu tiếng giữ thân được như thế thời về phần quân tử chắc được tốt lành, nên nói rằng: Đại cát.
(Theo thông lệ ở Dịch, tiểu là tiểu nhân, đại là quân tử). Đại cát nghĩa là quân tử biết việc như thế thời được cát. Chữ cát phản đối với chữ hung, tránh được hung, tức là cát, chứ không được cát hanh như mọi nơi. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Tiểu Quá, tiểu giả quá nhi hanh dã. Quá dĩ lị trinh, dữ thì hành dã. Nhu đắc trung, thị dĩ tiểu sự cát dã. Cương thất vị nhi bất trung, thị dĩ bất khả đại sự dã. Hữu phi điểu chi tượng yên, phi điểu duy chi âm, bất nghi thượng nghi hạ, đại cát, thượng nghịch nhi hạ thuận dã.
Soán viết: Tiểu Quá, tiểu giả quá nhi hanh dã. Tiểu Quá nghĩa là việc nhỏ có hơi quá mà cũng chỉ quá nhỏ, nhưng Tiểu Quá là việc bất đắc dĩ, đụng lấy thì hoặc việc nên phải quá thời tùy thì, tùy việc mà quá thời quá mà hanh thông được. Quá dĩ lị trinh, dữ thì hành dã. Quá mà lị ở trinh là vì quá cũng phải xem thì, cặp với thì mà đi, mới gọi bằng trinh, trinh thời mới lị. Nhu đắc trung, thị dĩ tiểu sự cát dã. Âm nhu là tiểu, theo ở thể quẻ Lục Nhị, Lục Ngũ là hào âm nhu mà ở đắc trung vị, vậy nên làm việc tiểu thời cát.
Cương thất vị nhị bất trung, thị dĩ bất khả đại sự dã. Còn như việc lớn, tất cần có tài dương cương mà đắc vị mới làm được, dương cương là đại, quẻ này hai hào dương thảy thất vị mà không được ở vị trung, vậy nên, không làm nổi việc lớn. Nhu đắc trung là tiểu nhân đắc thì, cương thất vị là quân tử thất thì, nên Quái từ nói rằng: Khả tiểu sự, bất khả đại sự, cũng có ý nói rằng ở về thì Tiểu Quá chính hợp với việc tiểu nhân mà không thlch hợp với việc quân tử.
Hữu phi điểu chi tượng yên, phi điểu duy chi âm, bất nghi thượng nghi hạ, đại cát, thượng nghịch nhi hạ thuận dã. Từ đây sắp xuống lại lấy thể quẻ mà thích cho hết lời quẻ. Theo như thể quẻ, cương trong, nhu ở ngoài là hình con chim, hai hào âm ở [dưới] tượng hai chân con chim; hai hào âm ở trên tượng hai cánh con chim xòe ra. Chim hai cánh ở trên là tượng chim bay. Vì thể quẻ có tượng như vậy nên Quái từ có chữ phi điểu. Lại theo về nghĩa Tiểu Quá, âm nhu đắc thì, dương cương thất vị.
Những người quân tử ở thời đại ấy không nên tiếng tăm quá lớn, chỉ nên như con chim bay, vừa bay vừa kêu, tiếng kêu chỉ thoáng qua rơi xuống mà thôi. Lại không nên ở ngôi cao, chỉ nên ở ngôi thấp, có thế thời đạo quân tử mới được tốt, nên Quái từ nói rằng phi điểu duy chi âm, bất nghi thượng nghi hạ, đại cát, bởi vì thượng thời nghịch với thì mà hạ thời thuận với thì đó vậy. Ba câu ấy chuyên nói về phần dương cương quân tử nên có chữ đại cát. Đại cát là dương cương quân tử.
Ở về thì Tiểu Quá, không việc gì đại mà nói được cát, chỉ duy dương cương quân tử, biết thuận thì tỵ thối, tức là đại được cát, cát cũng chẳng qua khỏi hung mà thôi. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Sơn thượng hữu lôỉ, Tiểu Quá. Quân tử dĩ hạnh quá hồ cung, tang quá hồ ai, dụng quá hồ kiệm. Tượng quẻ Chấn ở trên Cấn là tiếng sấm vừa ở trên núi mà tiếng sấm bị nghẹt với núi, phải thu súc lại mà nhỏ đi, nên tượng là Tiểu Quá. Quân tử xem ở tượng ấy, biết ở thì này chưa làm được việc đại quá nên chỉ làm việc tiểu quá mà thôi.
Việc nên quá mà quá, nhưng chỉ quá bằng việc nhỏ, tính nết mình bình thường quá chừng cung cẩn, đụng lấy việc tang quá chừng thương thảm, tiêu xài tiền của ở việc một mình quá chừng tiết kiệm. Ba việc ấy chỉ là việc trong bản thân mà không quan hệ đến việc quốc gia xã hội nên quá mà quá, nhưng cũng chỉ quá bằng tiểu sự, không quá bằng đại sự, đó là đúng với thì nghĩa Tiểu Quá. PHỤ CHÚ: Ba chữ quá ở trên Tượng Truyện nghĩa là việc vẫn có quá, nhưng quá mà thích với lẽ phải, hạnh quá hồ cung mà không quá hồ kiêu ngạo; tang quá hồ ai mà không quá hồ trương hoàng; đình đám dụng quá hồ kiệm mà không quá hồ xa xỉ trang sức.
Những việc quá ấy chỉ là việc tu thân nên nói rằng: Tiểu Quá. Tuy nhiên nên quá mà quá, nhưng thái quá cũng là thất trung, thái quá ở cung thời cung ra một cách giả dối; thái quá ở ai thời ai ra một cách tàn hủy; thái quá ở kiệm thời kiệm ra một cách keo sẻn. Điều đó cũng không phải đạo quân tử nhưng vì có thì mà phải làm quá, cũng chỉ quá chút đỉnh là vừa, đó cũng là nghĩa Tiểu Quá
Sáu Hào Của Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:飛鳥以凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Phi điểu dĩ hung. Sơ Lục âm nhu tại hạ, vẫn là tư cách tiểu nhân mà lại thượng ứng với Cửu Tứ, âm được dương giúp cho lại vừa ở thì Tiểu Quá nên Sơ càng hăng hái làm việc quá, quá mà đến nỗi quá thậm, đã chóng vừa xa, không thể cứu chỉ được, chẳng khác gì chim bay quá gấp mà mắc vạ sẩy cánh gãy mình, nên nói rằng phi điểu dĩ hung, nghĩa là thì Sơ ở dưới hết chỉ nên làm chim nấp; bây giờ không làm chim nấp mà làm chím bay thời hung là phải rổi.
PHỤ CHÚ: Bắt đầu vào thời Đại Quá mà quá cẩn thận như hào Sơ “Tạ dụng bạch mao” mới được vô cựu. Bắt đầu vào thì Tiểu Quá mà quá chừng nóng nảy như hào Sơ: “Phi điểu” thời mắc lấy hung; mới biết rằng: Việc thiên hạ lớn nhỏ khác nhau mặc dầu, tổng chi, việc quá là việc không đáng khinh dị. Nếu thấy thì Quá mà cứ quá liều, chẳng học hào Sơ Đại Quá mà học hào Sơ Tiểu Quá, chẳng trái thì, mắc lấy họa hay sao? Tượng viết: Phi điểu dĩ hung, bất khả như hà dã. Địa vị như Sơ Lục mà nếu quá ở cẩn thận, dầu không được đại cát, cũng không đến nỗi hung.
Bây giờ lại quá ở táo tiến mà phi điểu dĩ hung, thiệt không biết làm thế nào cho nó được vậy
Hào 2 — Lục Nhị
Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六二:過其祖,遇其妣;不及其君,遇其臣;无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Quá kì tổ, ngộ kì tỉ, bất cập kì quần, ngộ kì thân, vô cựu. Lục Nhị có đức nhu thuận, trung chính, ở vào thì Tiểu Quá, chắc là một người quá mà được phải. Theo về địa vị Cửu Nhị, nếu bước lên nữa thời vượt qua hai hào dương là Tam, Tứ, mà đụng gặp được một hào âm là Ngũ. Bản thân Nhị đã âm nhu, đáng lẽ là cầu dương thời mới phải. Vì ở thì Quá nên vượt qua dương mà trở lại gặp lấy âm, tượng như vượt qua ông mày mà trở lại gặp mẹ mày nên nói rằng: Quá kì tổ, ngộ kì tỉ (gọi ông bằng tổ dùng để thay hào dương, tức là Tam, Tứ; gọi mẹ bằng tỉ, dùng để thay hào âm, tức là Ngũ).
Cảu này chỉ vì địa vị Lục Nhị mà đặt ra lời thí dụ như thế. Câu dưới mới bày vẽ cách làm Quá cho Lục Nhị, nên có lời rằng: Nhị ơi! Mày ở về thể Hạ Quái, chỉ là phận làm tôi; người mày nếu có thượng tiến nữa, nhưng chỉ nên vừa phận mày, mày không kịp bằng vua thời chính là đúng phận làm tôi của mày. Bất cập nghĩa là không bằng ngang; ngộ là vừa đúng. Chữ Ngộ câu dưới với chữ ngộ ở câu trên, ý có khác nhau: chữ ngộ trên là nói tình cờ mà đụng gặp, Nhị vẫn không ngờ ngộ tỉ mà tình cờ ngộ là may cho địa vị Cửu Nhị; Nhị vẫn sẵn lòng ngộ kì thần mà làm được đúng là đáng kính trọng cho tâm sự Cửu Nhị.
Câu: Bất cập kì quân, ngộ kì thần, chính là nghĩa hạ thuận ở trên Soán Truyện, quá mà không quá là thủ chính đắc trung mà vô cựu. Tượng viết: Bất cập kì quân, thần bất khả quá dã. Hào từ Lục Nhị nói rằng: Bất cập kì quân là vì, ở vào thì Quá, tuy có việc nên quá, nhưng về nghĩa làm tôi thời không thể quá được vua vậy. Bất cập kì quân chính là quá ở cung cẩn, đó cũng là nghĩa chữ Quá
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:弗過防之,從或戕之,凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Phất quá phòng chi, tòng hoặc tường chi, hung. Ở vào thì Tiểu Quá, âm nhu quá hơn dương, chính là tiểu nhân mạnh hơn quân tử. Cửu Tam dương cương đắc chính vẫn là quân tử, nhưng vì tính chất quá ở cương, sợ không khỏi tự thị mình hay mà không lo phòng bị bọn quần tiểu, nên răn cho Tam rằng: Ở vào thì Quá, việc gì có quá chút đỉnh mới hay. Theo như hoàn cảnh của Tam, chỉ nên quá phòng bị tiểu nhân thời hơn. Nếu Tam chẳng quá phòng nó, rồi e đây có người làm hại Tam, mà Tam mắc vạ đó.
( Tường nghĩa là làm hại; phòng nghĩa là ngăn ngừa. Quá phòng nghĩa là phòng bị hơi quá cẩn thận). PHỤ CHÚ: Tiểu Quá là thì chung cả quẻ, sáu hào lại là thì riêng của mọi hào. Quẻ này khốn nạn nhất là thì Cửu Tam, ngó xuống dưới thời hai âm toan bức mình, ngó lên trên thời hai âm toan ép mình. Cửu Tứ tuy đồng đức, nhưng không giúp đỡ được mình, bản thân Tam lại ở chốn bán thượng lạc hạ. Vậy nên Hào từ phải nói một cách quá ư tiểu tâm như thế. Tả Truyện có câu nói rằng: Quân tử hay kiêng sợ ở việc nhỏ, mới không hoạn nạn lớn, chính đúng với nghĩa hào này.
Tượng viết: Tòng hoặc tường chi, hung như hà dã. Cửu Tam nếu không biết phòng bị quần âm thời hung họa về tương lai, không biết chừng nào vậy
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:无咎,弗過遇之。往厲必戒,勿用永貞。
Phan Bội Châu chú giải:
Vô cựu, phất quá ngộ chi vãng, lệ, tất giới, vật dụng vĩnh trinh. Địa vị Cửu Tứ cũng bán thượng lạc hạ như Cửu Tam, nhưng vì Tứ hào cương mà xử vị nhu, biết hạn chế tính cương mà làm một cách quá hồ cung, như thế là được vô cựu. sở dĩ được vô cựu là vì chẳng quá ở cương. Đã chẳng quá ở cương là vừa đúng với đạo lí. Đã phất quá mà ngộ chi là vừa đúng với đạo Tiểu Quá. Ở vào thì Tiểu Quá nên như thế mà thôi. Nếu còn tấn vãng thời có việc nguy, tất nên giới cụ mới được.
Tuy nhiên, ở địa vị Cửu Tứ, thiệt là địa vị rất khó xử. Vãng mà theo Nhị âm vẫn sợ có nguy, nhưng nếu cố thủ mà không biết biến thông, ở gặp hồi trong nước vô đạo mà giữ lấy một cách nguy ngôn nguy hạnh, cũng chưa hợp đạo thì trung, nên nói lại vật dụng vĩnh trinh, nghĩa là nên tuy thì thiện xử, không nên câu nệ mà giữ một cách thường đó vậy. (Chữ trinh ở đây cũng chỉ nghĩa là cố thủ, không phải trinh là chính). Trinh mà nghĩa là chính thời trinh là đạo rất hay của quân tử.
Trinh mà nghĩa là cố thủ thời vĩnh trinh lại trái với phương pháp biến thông của quân tử. Hào từ này nên chia làm ba đợt: Phất quá ngộ chi là ngợi khen cách hiện tại; Vãng lệ tất giới là răn ngừa về tương lai; Vật dụng vĩnh trinh là tóm về đạo lí toàn cuộc nghĩa là, quân tử nên dùng cách thì trung mà không nên cố chấp. Tượng viết: Phất quá ngộ chi, vị bất đương dã, vãng lệ tất giới, chung bất khả trường dã. Phất quá ngộ chi là vì Cửu Tứ dương cương mà xử vào nhu vị vì địa vị không quá ở cương nên vừa đúng lấy đạo Tiểu Quá vậy.
Vãng lệ tất giới là vì ở vào thì âm thịnh hơn dương, nếu không biết giới cụ thời kết quả không thể lâu dài được. Vị bất đương nghĩa là, hào cương mà ở vào vị nhu, nhờ nhu chế được cương nên phất quá ngộ chi
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:密雲不雨,自我西郊,公弋取彼在穴。
Phan Bội Châu chú giải:
Mật vân bất vũ, tự ngã Tây giao, công dặc, thủ bị tại huyệt. Dương hạ giáng mà tiếp với âm, âm thượng thăng mà giao với dương thời mới được âm dương hòa mà thành ra mưa. Nhưng ở thì Tiểu Quá thời khác hẳn, âm một mực thượng tiến mà dương cũng không hạ giáng tiếp xúc, tượng như mây dương uất kết mà không làm nên mưa, nên nói rằng: Mật vân bất vũ, tự ngã Tây giao, nghĩa câu này cũng như nghĩa Quái từ quẻ Tiểu Súc, nghĩa là Ngũ tuy ở ngôi tôn, nhưng vì âm nhiều quá hơn dương, không thể hữu vi được, chẳng qua đồng loại tương cầu bạn âm quấn quýt lấy nhau.
Ngũ lại xuống dắt Nhị lẻn làm người giúp cho mình nên lại nói rằng: Công dặc, thủ bỉ tại huyệt. Công chỉ vào Lục Ngũ; huyệt là hang sâu, tức là chốn âm chỉ vào Lục Nhị; dặc thủ nghĩa là đe mà bắt lấy. Ngũ vớ lấy Nhị làm bạn, tỉ như: Dặc thủ bỉ tại huyệt. Nói tóm lại, ở vào đời âm quá, không làm được việc lớn gì, chi là Ngũ với Nhị cặp kè nhau cho qua thì mà thôi. Tượng viết: Mật vân bất vũ, dĩ thượng dã. Âm dương tiếp xúc nhau, mới thành được mưa. Bây giờ âm lên ở quá cao mà không tiếp xúc với dương.
Thế là âm dương bất hòa làm gì được mưa nên nói rằng: Mật vân bất vũ, dĩ thượng đã ( Dĩ thượng nghĩa là quá cao)
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:弗遇過之,飛鳥離之,凶,是謂災眚。
Phan Bội Châu chú giải:
Phất ngộ quá chi, phi điểu ly chi, hung, thị vị tai sảnh. Thượng Lục bản chất âm nhu mà ở vào thể Chấn, Chấn thời có tính hiếu động, âm mà hí động là một cách quá dở, huống gì ở vào cuối cùng thì Tiểu Quá, quá chi chung là cực ở quá nên nỗi cách hành vi của Thượng chẳng gì đúng với đạo lí mà lại trật quá lên nữa. Phận lượng quá đã lên đến cao điểm mà lại rất xa, tượng như con chim bay ly cách đã xa mà không thể kéo chữa được nữa. Như thế thời chẳng những hung mà thôi mà lại còn tai trời vạ người đưa đến cho nữa.
PHỤ CHÚ: Ở quẻ Tiểu Quá này, bốn âm ở ngoài, bao bọc nhị dương trong, số dương phần ít, số âm phần nhiều là âm quá mà dương không quá, tượng là tiểu nhân nhiều quá ư quân tử, nên Cửu Tứ với Thượng Lục phản đối nhau. Cửu Tứ thời phất quá mà ngộ chi là dương không quá được âm mà lại ngộ lấy âm. Quân tử mà ngộ lấy tiểu nhân là việc đáng sợ nên răn cho rằng: Vãng lệ tất giới. Trái lại, Thượng Lục thời phất ngộ quá chi là âm chẳng ngộ lấy dương mà lại vượt quá được dương.
Tiểu nhân mà vượt quá quân tử là nguy cho thế đạo nhiều lắm, nên Hào từ ngăn cho rằng: Thị vị tai sảnh. Dịch vị quân tử mưu, bất vị tiểu nhân mưu, thảy như thế. Tượng viết: Phất ngộ quá chi, dĩ kháng dã. Phất ngộ mà quá chi là vì Thượng Lục xử vào Quá chi chung, ỷ thế âm quá mà vượt đến tột mực, hung là phải rồi ( Dĩ kháng nghĩa là quá cao). PHỤ CHÚ: Xem suốt hết Hào từ cả sáu hào thời càng nên nhận kỹ câu Quái từ Bất nghi thượng nghi hạ, đại cát.
Ồ về thì âm thịnh hơn dương, nhu nhiều hơn cương, tiểu nhân đắc thế hơn quân tử, về phần dương cương, phe quân tử chỉ nên hạ thối, không nên thượng tiến. Trong quẻ chỉ có hai hào dương là Tứ với Tam. Tam vì ở vị dương là tính ham lên, lên thời mắc lấy hung là vì thì bất nghi thượng mà thượng thời kết quả phải xấu. Tứ vì xử vị nhu, nhu thời hay tự hạ, hạ nên được vô cựu là thì nghi hạ mà biết cách hạ thời kết quả cũng được lành. Chúng ta rủi gặp thì Tiểu Quá nên cân lượng ở chốn nghi thượng nghi hạ như thế nào!
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 62 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Lôi Sơn Tiểu Quá Là Gì?
Thượng quái là Chấn, tượng sấm; hạ quái là Cấn, tượng núi. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 小過: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 61: Phong Trạch Trung Phu · Quẻ 63: Thủy Hỏa Ký Tế


Hotline