Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc (小畜) là quẻ số 9 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Tốn (gió), hạ quái là Càn (trời). Tiểu Súc trình bày một thế tích chứa hoặc ngăn giữ còn nhỏ. Hình ảnh mây dày mà chưa mưa giúp nhận ra tình thế chưa đủ để thành tựu trọn vẹn, dù vẫn có điều kiện hanh thông.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc Là Gì?
| Số thứ tự | 9/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Phong Thiên Tiểu Súc — 小畜 |
| Thượng quái | Tốn — Gió |
| Hạ quái | Càn — Trời |
| Hào dương | 5 |
| Hào âm | 1 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Càn, ba hào sau tạo thượng quái Tốn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
小畜:亨。密雲不雨,自我西郊。
Nguyên Văn Thoán Truyện
小畜,柔得位而上下應之,曰小畜。健而巽,剛中而志行,乃亨。密雲不雨,尚往也。自我西郊,施未行也。
Nguyên Văn Đại Tượng
風行天上,小畜,君子以懿文德。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Tốn trên; Kiền dưới Quẻ này là quẻ Phong Thiên Tiểu Súc. Càn hạ cũng là Nội Cấn, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn vi Phong, Càn vi Thiên, nên tên quẻ đọc bằng Phong Thiên Tiểu Súc. TỰ QUÁI Tự quái: Tỉ giả tỉ dã, tỉ tất hữu sở súc, cố thụ chi dĩ Tiểu Súc. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tỉ tiếp lấy quẻ Tiểu Súc là vì cớ sao? Bởi vì Tỉ nghĩa là tỉ phụ với nhau. Đã tỉ với nhau, tất phải có chốn súc dưỡng. Vậy nên, sau quẻ Tỉ tiếp lấy quẻ Tiểu Súc.
Chữ súc có hai nghĩa: Một nghĩa súc là nuôi nhau, tức là súc tụ; một nghĩa súc là ngăn đón, tức là súc chỉ. Quẻ này, Tốn trên, Càn dưới, tính Càn cương kiện, tính Tốn nhu thuận, cương kiện mà chịu ở dưới nhu thuận. Thế là Càn cương bị Tốn thuận ngăn đón, tức là âm súc được dương, nên đặt tên quẻ bằng Tiểu Súc (Tiểu là âm; đại là dương, tiểu súc được đại là âm súc được dương). Suy vào việc người, lệ như: Tiểu nhân súc được quân tử; thần súc được quân; binh súc được tướng, dân súc được quan.
Hễ những việc gì nhỏ súc được lớn, tổng chi gọi bằng Tiểu Súc. SOÁN TỪ Tiểu Súc hanh, mật vân bất vũ, tự ngã Tây giao. Tên quẻ đặt bằng Tiểu Súc có hai nghĩa: Một là, âm tiểu mà súc được dương; hai là, cái sở súc hãy còn bé nhỏ. Hai nghĩa ấy có thể dính với nhau. Bởi vì âm thường yếu, dương thường mạnh, dầu có nhân thời thế ở trong một lúc mà dương bị âm súc chỉ, nhưng chẳng qua tạm thời ngăn cản, chứ không thể gây ra sự biến lớn, nên tên quẻ gọi bằng Tiểu Súc là góp cả hai nghĩa nói trên đây, nhưng theo về thể quẻ, xem suốt cả sáu hào, tượng là: Trong thời cương kiện, mà ngoài thời tốn thuận, Cửu Nhị, Cửu Ngũ thảy đắc trung mà gánh việc thì Súc, súc được như thế, thời việc chắc hanh thông.
Tuy nhiên, việc vẫn hanh thông, mà sở súc hãy còn hèn mọn thời hoài bão của mình chưa phát triển được hết, tượng như trời vẫn sắp muốn mưa, mà vì mây còn đóng khít ở một lúc, chưa tan ra làm mưa. Chữ “mật vân” là thí dụ đạo quân tử còn uất. Chữ “bất vũ” là thí dụ đức trạch mình chưa ban bố được ở đời. Soán từ lại có câu: Tự ngã tây giao, câu này là thủ tượng bằng tượng quẻ. Quẻ ngoại là Tốn, Tốn thuộc về phương âm, chính là phương Tây, nên nói rằng: Đám mây khít mà chẳng làm nên mưa đó, chính tự phía Tây của Tốn kết thành.
Tây giao: cõi phía Tây, chữ ngã là chỉ vào Tốn âm. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Tiểu Súc, nhu đắc vị, nhi thượng hạ ứng chi, viết Tiểu Súc. Kiện nhi tốn, cương trung nhi chí hành, nãi hanh. Mật vân bất vũ, thượng vãng dã; tự ngã tây giao, thí vị hành dã. Soán viết: Tiểu Súc, nhu đắc vị, nhi thượng hạ ứng chi, viết Tiểu Súc. Đây là lấy thể quẻ, thích danh nghĩa quẻ. Toàn quẻ duy một hào âm là Lục Tứ, ở vị quẻ trên, thế là nhu đắc vị, còn trên dưới năm hào dương thảy bị Tứ súc chỉ mà năm dương phải nghe theo.
Vậy nên đặt tên quẻ bằng Tiểu Súc. Kiện, nhi tốn, cương trung nhi chí hành, nãi hanh. Đây là thể quẻ đức quẻ, thích lời quẻ. thể quẻ Nội Càn, Ngoại Tốn, thế là cương kiện mà hay tốn thuận. Lại trong quẻ, Cửu Nhị, Cửu Ngũ ở vị trung, theo tính dương cương thời chí ở tiến hành. Thế là dương cương đắc trung mà chí mình chắc có thể hành được. Vậy nên Soán từ có chữ hanh ( hanh: thông thuận). Mật vân bất vũ, thượng vãng dã; tự ngã tây giao, thí vị hành dã. Sở dĩ mật vân bất vũ là vì cớ sao?
Nguyên lai, âm dương nhị khí, tiếp hợp với nhau, thời mới thành mưa. Bây giờ âm súc dương là có ý bất hòa. Dương chẳng chịu âm súc, mà cứ một mực tấn lên, chẳng chịu hạ tiếp với âm, vậy nên chẳng thành được mưa. Tự ngã tây giao nghĩa là: Công việc mình chỉ ở phía Tây giao của mình mà thôi, chưa có gì phát triển được rộng lớn ( Thí: phát triển; hành: mở rộng). PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Soán từ, Soán Truyện quẻ này mà phát sinh được hai múi tư tưởng. Một là tư tưởng thuộc về lẽ thường; một là tư tưởng thuộc về lẽ biến.
Lẽ thường là đạo lí nhất định, lẽ biến là thời thế thay đổi. Tỉ như: quẻ Tỉ, quẻ Sư [10] liên tiếp với nhau, bởi không tỉ phụ với nhau, thời không làm nên sư chúng, nên Sư tất phải có Tỉ. Nhưng đã Tỉ phụ với nhau, tất phải có chốn nuôi chứa. Nuôi chứa thời phải cần những giống gì? Quay lại, cần phải có đồ ăn. Vậy nên muổn hợp quần, không thể bỏ ngơ được đường kinh tế, đó chính là nghĩa Tỉ tất hữu sở súc. Lại còn một ý nghĩa: Quẻ Tỉ thời nhất dương đắc vị mà năm âm phải nghe theo, đó là thường lệ trong Dịch.
Thế mà quẻ Tiểu Súc thời trái hẳn, nhất âm đắc vị, mà năm dương phải nghe theo. Nếu như mắt các nhà gắn cột gảy đờn, tất nhiên trách Dịch học là mâu thuẫn. Nhưng chúng ta phải biết, nếu chẳng mâu thuẫn như thế, thời làm sao gọi được Dịch nữa đâu. Dịch nguyên là giống biến dịch kia mà! Ở thì Tỉ vẫn thế lực thuộc về nhất dương nên nhất dương thống ngự quần âm. Ở thì Tiểu Súc, thời lại thế lực thuộc về nhất âm nên nhất âm súc chỉ quần dương. Chẳng qua vì thời đại có biến hóa nên nhân sự cũng theo đó mà biến hóa.
Duy dương thống âm, thời thế đạo có tượng vui vẻ nên Soán từ quẻ Tỉ có chữ “nguyên vĩnh trinh”, lại có câu “bất ninh phương lai”. Đến như âm súc dương thời thánh nhân có ý ái ngại nên Soán từ Tiểu Súc có câu “mật vân bất vũ”, mà tên quẻ đặt bằng Tiểu Súc, chinh là tức tối vì chưa được Đại vậy. Tượng viết: Phong hành thiên thượng, Tiểu Súc. Quân tử dĩ ý văn đức. Ngoại Tốn là phong, Nội Càn là Thiên. Tốn ở trên Càn, tượng là gió đi trên trời, công dụng gió là cốt để cổ động vạn vật trên mặt đất, mà bây giờ còn đi ở trên trời, thời công dụng ở trên mặt đất còn nhỏ hẹp lắm, nên đặt tên bằng Tiểu Súc, nghĩa là: Dầu có súc chỉ được vật, nhưng còn nhỏ mà chưa lớn.
Quân tử xử vào thời đại này thời chỉ nên trau dồi đức tính, vun đắp nền học vấn, phát triển tài văn chương, chỉ là ý văn đức mà thôi. Ý: tốt; văn đức: đức thuộc về văn, Tốt bằng văn đức là uẩn súc còn nhỏ lắm. PHỤ CHÚ: Làm sách dạy đời, lập ngôn cứu thế, cũng là một việc của thánh hiền, vì cớ sao mà ý văn đức, lại xem bằng Tiểu Súc? Bởi vì xưa nay thánh nhân tu thân cứu thế, mục đích cốt ở thực hành mà chẳng cần ở hư văn. Chẳng may hoàn cảnh gay go, thời thế bắt buộc, chưa có thể đại hữu vi, mới quay đầu làm những việc trước thư lập ngôn, tức như Đức Khổng Tử, thầy Mạnh Tử viết sách làm kinh, vạn thế bất hủ.
Tự ý người sau vẫn xem làm việc lớn, mà tự tâm lí thánh nhân lúc bấy giờ thời chỉ xem bằng Tiểu Súc mà thôi
Sáu Hào Của Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初九:復自道,何其咎,吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Phục tự đạo, hà kì cựu, cát. Sơ là Dương, mà lại ở về thể Càn là một người có tài cương kiện, nhưng vì ở trên có Lục Tứ là âm nhu làm chính ứng với Sơ Cửu, ở thời đại Tiểu Súc là âm súc được dương, hào Sơ tuy có tài thượng tấn nhưng bị hào Tứ súc chỉ nên Sơ cũng phải chịu ngồi an, chính là hợp với đạo lí khả chỉ nhi chỉ. Theo về nghĩa, tùy thời mà cũng chẳng trái với đạo lí, thế là phục tự đạo. Phục: quay trở lại; tự đạo: đạo lí của bản thân.
Xử vào địa vị Sơ Cửu mà biết quay lại đạo lí của bản thân, thời còn gì tội lỗi đến mình. Chẳng những vô cựu mà thôi, lại cát nữa kia. Tượng viết: Phục tự đạo, kì nghĩa cát dã. Tượng Truyện bổ thêm ý nghĩa của Hào từ nói rằng: Có tài dương cương như Sơ Cửu, mà biết phục tự đạo, kể theo nghĩa tùy thì, thời được lành vậy. PHỤ CHÚ: Xem hai chữ “ nghĩa cát ” thấy được ý thánh nhân bàn họa phúc trái với ý thế tục. Thế tục bàn họa phúc thường chú trọng về phần lợi hại, lợi thời phúc, hại thời họa.
Còn thánh nhân bàn họa phúc, thường chú trọng về phần phải, trái, phải là phúc, trái là họa. Vậy nên nói nghĩa cát. Bởi vì Sơ Cửu này có tài dương cương mà ở thời đại Tiểu Súc chẳng tiến lên được cao, chỉ phải phục tự đạo, cứ như mắt thế tục thời có lị gì mà cát, nhưng theo mắt thánh nhân, thời hợp với đạo nghĩa là cát. Chính như câu của thầy Vương Dương Minh: Đạo nghĩa vi phúc
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:牽復,吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Khiên phục, cát. Hào Cửu ở vị Nhị là dương cương đắc trung, ở trên có Cửu Ngũ cũng dương cương đắc trung. Nhị, Ngũ hai hào ứng với nhau chính là bạn đồng chí. Vì ở thời đại Tiểu Súc nên thường lo âm súc chí mình mà mình chẳng thượng tấn được, nhưng Nhị với Ngũ chí đồng, tài đồng, mà cảnh ngộ lại in nhau, đồng bệnh tương liên, đồng tâm cộng tế, dắt kéo nhau mà trở lại được bản vị của mình, như thế, thời được cát ( Khiên: dắt kéo) là nói Ngũ dắt kéo Nhị. Tượng viết: Khiên phục tại trung, dìệc bất tự thất dã.
Cửu Nhị sở dĩ khiên phục, cát là cốt nhờ có đức trung, cũng là chẳng tự thất đó vậy. PHỤ CHÚ: Chữ “bất tự thất” đây, cũng như nghĩa “bất tự thất” ở hào Nhị quẻ Tỉ. Hào Nhị quẻ Tỉ tỉ với hào Ngũ mà chẳng phải thất thân. Hào Nhị quẻ này nhờ có hào Ngũ dắt mình lên, nhưng mà chí đồng đạo hợp, tuy Ngũ dắt Nhị mà Nhị vẫn là bạn tốt của Ngũ, giùm giúp được cho Ngũ, cũng chẳng phải là tự thất, giá trị cân ngang với hào Nhị quẻ Tỉ nên có chữ diệc. Diệc nghĩa là cũng.
Ngó lại Lục Nhị quẻ Tỉ mà nói, thời hai hào khác quẻ mà chung nhau ba chữ bất tự thất, nên Tượng hào này thêm vào chữ diệc
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:車(一作輿)說輹(一作輻),夫妻反目。
Phan Bội Châu chú giải:
Dư thoát phúc, phu thê phản mục. Hào Cửu ở vị Tam là có tính dương cương, mà lại quá cương bất trung, vẫn là một người rất hăng cầu tiến, gia dĩ ở thời Tiểu Súc là âm súc dương, mà Tam lại bức cận với Tứ là âm hào. Tứ âm nhu hết sức súc chỉ Tam, Tam muốn tiến, mà tiến chẳng được, tượng như đi xe mà rớt mất trục bánh xe ( Phúc: trục bánh xe; dư: xe). Vì Tam đã tính cương mà lại chẳng tiến được nên căm tức Tứ, thành ra âm, dương kình choảng nhau, tượng như vợ chồng trái mắt nguýt nhau.
Tượng viết: Phu thê phản mục, bất năng chính thất dã. Phu thế phản mục là tượng Tam với Tứ kình nhau, kết quả đến như thế, tạo nhân do ở bản thân Tam, tự xử chẳng phải đạo nên Tứ mới hạn chế được, cũng như chồng chẳng chính được việc nhà nên nỗi phu thê phản mục. Thất: nhà, con trai có vợ thời gọi bằng hữu thất, con gái có chồng thời gọi bằng hữu gia. Thất, gia hai chữ thường cặp nhau. Chính thất: chính được nhà
Hào 4 — Lục Tứ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六四:有孚,血去惕出,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Hữu phu, huyết khử, dịch xuất, vô cựu. Hào Lục vị Tứ là âm nhu đắc chính, ở gần hào Ngũ là thân cận với bậc chí tôn, vả lại ở vào thời Tiểu Súc là nhất âm súc được bầy dương. Theo như tượng quẻ, thời năm hào dương thảy trông nom vào Tứ. Tứ lấy một mình nhu thuận mà ứng phó với năm dương cương, thế nào khỏi được xung đột, e đến nỗi có việc lưu huyết mà tổn thương, vả lại nguy cụ. May Lục Tứ có đức nhu thuận đắc chính, biết đem hết lòng chí thành để cam kết lòng bầy dương.
Chính ứng với Lục Tứ lại có Sơ Cửu là bạn đồng chí, dắt kéo cả bầy dương mà giúp đỡ cho Tứ; kết quả thời những thương tích được lành, việc nguy cụ tránh khỏi được là chỉ nhờ tấm lòng thành tín mà cảm động được lòng người. Như thế cho nên được vô cựu. Tượng viết: Hữu phu, dịch xuất, thượng hợp chí dã. Ở trên, Hào từ nói chung cả năm hào dương, mà Tượng Truyện thời chỉ nói riêng Cửu Ngũ. Vậy nên nói rằng hữu phu, dịch xuất là vì Ngũ ở trên đã hợp chí với Tứ thời chúng dương tất phải nghe theo
Hào 5 — Cửu Ngũ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九五:有孚攣如,富以其鄰。
Phan Bội Châu chú giải:
Hữu phu, loan như, phú dĩ kỳ lân. Quẻ này theo về tượng quẻ, thời Ngoại Tốn súc chỉ Nội Càn; theo về tượng các hào thời nhất âm súc chỉ ngũ dương làm lãnh tụ cho bầy dương chính là Cửu Ngũ, Cửu Ngũ đắc trung, đắc chính lại ở ngôi tôn, hay đem lòng thành tín dắt kéo bầy dương. Loan cũng như nghĩa chữ khiên là dắt kéo nhau, chữ như là hoạt động từ. Loan như là tượng lấy tay kéo dắt nhau. Vì Cửu Ngũ có đức thành tín mà dắt kéo được bầy dương, thời nhất âm ở cạnh mình cũng bị đức mình cảm hóa, tượng như mình có sức giàu mà sử dụng được láng giềng mình.
Kì lân: láng giềng mình, cũng có nghĩa là lân cận mình, chỉ vào Lục Tứ. Dĩ: sử dụng, mình dĩ được người là chủ động, bị người dĩ mình là bị động. Ở thời Tiểu Súc, Lục Tứ nhất âm mà súc chỉ được quần dương, lại ở kề cạnh Cửu Ngũ là một nhà láng giềng rất có thế lực, há dễ sử dụng được nó. Nhưng vì Ngũ có đức thành tín dày dặn, cảm động được Tứ, mà Tứ cũng lấy thành tín ứng với Ngũ, té ra bị Ngũ sử dụng, nên nói rằng: Phú dĩ kì lân. Chữ phú đây cũng như chữ phú ở Chiến Quốc Sách có câu quả nhân phú hồ tài, tiên sinh phú hồ đức.
Cửu Ngũ vì phú hồ đức nên kéo dắt được bầy dương, chế phục được nhất âm. Thế mới biết sức mạnh của đạo đức gấp nghìn, gấp trăm lần uy quyền thế lực, xem Tượng Truyện lại càng rõ lắm. Tượng viết: Hữu phu, loan như, bất độc phú dã. Cửu Ngữ có đức thành tín chứa trữ ở trong mình, vẫn mình đã phú rồi, nhưng chẳng phải phú ở một mình mà thôi. Bởi vì mình có đức thành tín, mà đức thành tín đó truyền nhiễm đến người, người cũng tất thảy thành tín như mình vậy. Thế là chẳng phải một mình phú mà người cũng phú nữa.
Ba chữ bất độc phú là thích cho rõ nghĩa phú dĩ kì lân. PHỤ CHÚ: Lời Tượng Truyện đây tham khảo với câu: Đức bất cô, tất hữu lân ở trong Luận Ngữ, thời càng minh bạch
Hào 6 — Thượng Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上九:既雨既處,尚得(一作德)載,婦貞厲,月幾望,君子征凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Kí vũ, kí xử, thượng đức tái, phụ trinh, lệ. Nguyệt cơ vọng, quân tử chinh hung. Hào từ này rất khó giải, trước thích nghĩa từng chữ một, sau thích luôn cả Hào từ. Năm câu thích làm hai tiết như sau: Kí: đã tới nơi; kí vũ: đã đến lúc đổ mưa; xử: chỉ, cũng có nghĩa là an ở; thượng: chuộng, cũng như nghĩa chữ sùng; tái: chở đầy; cơ: sắp sửa, cũng là gần là ngõ hầu; vọng: đêm rằm; cơ vọng: sắp sửa đến đêm rằm; chinh: hành động, cũng có nghĩa là tiến lên. Thượng Cửu ở trên hết Ngoại Tốn là Tốn thuần chi cực; lại ở trên hết quẻ Tiểu Súc là Súc chi chung.
Thánh nhân thủ nghĩa, chẳng thủ bằng Tượng hào mà thủ bằng tượng quẻ. Quẻ đã đến hào Thượng, thời công việc âm súc dương đã đến ngày thành thục, mà dương đã phải chịu hòa với âm, tượng là âm, dương đã tương tiếp mà thành mưa, đã mưa rồi thời hai bên hòa hợp với nhau, chẳng tí gì xung đột nhau nữa mà thành tâm an với nhau. Như thế là đức nhu tốn của Lục Tứ làm cho người sùng thượng đã chất chứa đến lúc đầy ( Đức là đức nhu thuận của Tứ). Tuy nhiên, một hào âm nhu mà súc chỉ năm hào dương cương, đến lúc bây giờ đã đắc chí cực điểm, chẳng qua vì thời thế mà nên thế, há phải hạnh phúc của nhân sự đâu, nên thánh nhân phải có lời răn rằng: Bọn phụ nhân kia, mày chớ thấy vợ hạn chế được chồng, mà một mực cố thủ lấy đạo ấy, tất có ngày nguy hiểm.
Phụ, chỉ vào hào âm; trinh: giữ chặt, chữ trinh ở đây khác với nghĩa chữ trinh là chính; lệ: nguy hiểm. Ba câu trên đây chuyên chỉ vào phe âm nhu mà cũng là phe tiểu nhân. Tiểu nhân đắc chí đã đến như lúc cuối cùng của quẻ Tiểu Súc nên thánh nhân lại lo cho quân tử mà thêm vào hai câu nói rằng: Phường quân tử ta ơi! Âm đạo trưởng đã sắp sửa tới nơi rồi, tượng như mặt trăng đã xấp xỉ tới đêm rằm, chúng ta phải trầm tĩnh thẩm thận mà lựa cách ứng phó, chớ nên vội vàng hành động, thời mắc lấy hung.
Tượng viết: Kí vũ, kí xử, đức tích tái dã; quân tử, chinh hung, hữu sở nghi dã. Kí vũ, kí xử là đức trạch phe âm đã chất chứa đầy, đến lúc hoàn thành vậy. Quân tử chinh hung là có chốn ưu nghi nên lo cách phòng bị vậy. PHỤ CHÚ: Hào từ Thượng Cửu đáng chú ý nhất là câu nguyệt cơ vọng, mà tinh thần hay nhất lại ở chữ kị. Nguyệt tượng tiểu nhân, nguyệt không thể nào chẳng đến vọng, tiểu nhân cũng không thể nào chẳng đến ngày nó đắc chí. Tiểu nhân đắc chí, thời quân tử nguy, vẫn là lẽ tự nhiên, nhưng nếu phe quần tử biết xét họa cơ cho sớm, mà ngăn đón trước ở lúc họa chưa đến nơi thời chắc cũng chẳng họa chí.
Nếu chờ đến lúc họa đã đến nơi, tức như trăng đã đến rằm rồi, còn phòng bị gì được nữa rư, nên thánh nhân dạy cho phải tri cơ [11] mà gấp lo trước. Cơ là ẩn tình ở trước lúc việc chưa phát hiện; ký là hiện trạng ở sau việc đã hiển nhiên. Khi việc còn cơ, mà chẳng lo dự phòng, đến khi cơ rồi, thời chỉ duy bó tay chịu chết mà thôi. Hệ tử cũng có câu: Tri cơ kỳ thần hồ. Tri cơ là biết được khi còn cơ vi; cơ chính là khi sự tình chưa rõ.
Nếu làm việc mà thiệt tri cơ, thời chẳng việc gì đến thất bại
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Phong Thiên Tiểu Súc là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 9 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Phong Thiên Tiểu Súc Là Gì?
Thượng quái là Tốn, tượng gió; hạ quái là Càn, tượng trời. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 小畜: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Phong Thiên Tiểu Súc. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 8: Thủy Địa Tỷ · Quẻ 10: Thiên Trạch Lý


Hotline