Quẻ Thủy Trạch Tiết (節) là quẻ số 60 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Khảm (nước), hạ quái là Đoài (đầm). Tiết nói về điều tiết, hạn độ. Lời quẻ phân biệt tiết độ có thể thông với khổ tiết không nên giữ mãi; giới hạn vì thế phải được xét ở mức thích hợp.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Thủy Trạch Tiết Là Gì?
| Số thứ tự | 60/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Thủy Trạch Tiết — 節 |
| Thượng quái | Khảm — Nước |
| Hạ quái | Đoài — Đầm |
| Hào dương | 3 |
| Hào âm | 3 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Đoài, ba hào sau tạo thượng quái Khảm. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thủy Trạch Tiết
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
節:亨。苦節不可貞。
Nguyên Văn Thoán Truyện
節,亨,剛柔分,而剛得中。苦節不可貞,其道窮也。說以行險,當位以節,中正以通。天地節而四時成,節以制度,不傷財,不害民。
Nguyên Văn Đại Tượng
澤上有水,節;君子以制數度,議德行。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Khảm trên; Đoái dưới Quẻ này là quẻ Thủy Trạch Tiết. Đoái hạ cũng là Nội Đoái, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm thủy, Đoái trạch, nên tên quẻ đọc bằng Thủy Trạch Tiết. TỰ QUÁI Tự quái: Hoán giả li dã, vật bất khả dĩ chung li, cố thụ chi dĩ Tiết. Sau quẻ Hoán tiếp lấy quẻ Tiết là vì cớ sao? Trước kia là quẻ Hoán, Hoán nghĩa là lìa tan; vật không thể lìa tan được mãi, tất phải có cách ngăn đón lại vậy, nên sau quẻ Hoán tiếp lấy quẻ Tiết. Tiết có hai nghĩa: Một nghĩa Tiết là mắt, như trúc tiết, tùng tiết, v.v.
Lại một nghĩa nữa, Tiết là có chừng mực, cũng có nghĩa là dè đặt, như tiết kiệm, tiết chế, v.v. Theo về thể quẻ, trên chằm có nước, vì chằm có chừng mực mà nước trên chằm không tràn chảy ra được, tượng là có tiết chế nên đặt tên quẻ bằng Tiết. SOÁN TỪ Tiết, hanh, khổ tiết, bất khả trình. Việc trong thiên hạ, quý nhất là vừa đắc trung, bất cập vẫn là không hay mà thái quá cũng là dở). Vì sợ đến nỗi thái quá mà phải sinh ra hạn tiết. Đã hạn tiết tức là đắc trung mà đã đắc trung thời không việc gì chẳng hanh thông, nhưng mà cái hạn tiết đó, chỉ vì sợ thái quá mà phải Tiết, mà lại ở bản thân Tiết cũng vừa nên đắc trung.
Nếu Tiết mà thái quá thời Tiết đó lại bất cận nhân tình, tượng như đồ ăn mà chỉ thiên về một vị đắng, quá đắng tức là khổ. Tiết đã đến nỗi khổ, tạm thì còn khá, nếu cố thủ làm thường, cũng là trái với trung đạo. Vì trái với trung đạo thời người ta không thể thường hành được, nên lại nói rằng: Khổ tiết, bất khả trinh. Thanh như ông Bá Di mà thầy Mạnh thấy làm ải, liêm như thầy Trần Trọng Tử mà thầy Mạnh cũng nói Tất dẫn nhi hậu khả c. Chữ trinh đây chỉ học trinh là cố thủ, không đọc nghĩa trinh là chính.
Nói về phẩm hạnh của cá nhân thời khổ tiết vẫn là chính. Nói về thường lí cả xã hội thời khổ tiết không thể cố thủ được. Quái từ nói rằng bất khả trinh là ý muốn cho người biết cho vừa đắc trung mà không cưỡng người ta làm khổ tiết. Dịch là nói chung về xã hội, chẳng phải nói riêng về cá nhân. Vì vậy nên đã nói rằng tiết hanh lại nói rằng khổ tiết bất khả trinh. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Tiết hanh, cương, nhu phân, nhi cương đắc trung, khổ tiết bất khả trinh, kì đạo cùng dã.
Duyệt dĩ hành hiểm, đang vị dĩ tiết, trung chính dĩ thông. Thiên địa tiết nhi tứ thì thành, tiết dĩ chế độ, bất thương tài, bất hại dân. Soán viết: Tiết hanh, cương, nhu phân, nhi cương đắc trung. Tiết sở dĩ được hanh, bởi vì theo như thể quẻ, cương ba hào, nhu cũng ba hào, cương, nhu cân địch với nhau, không bên nào quá mà lại tốt thứ nhất là hào Nhị, hào Ngũ, thảy dương cương đắc trung. Đã có tài cương trung, tất nhiên xử sự được trung tiết mà việc gì cũng hanh thông. Khổ tiết, bất khả trinh, kì đạo cùng dã.
Việc sở dĩ phải tiết là cốt cho người ta thông hành được, bây giờ tiết mà đến nỗi quá, thành ra khổ tiết, bất khả trinh. Thế thời chỉ độc thiện trong một mình mà không thể thông hành được trong thiên hạ. Tiết mà không hanh thời đạo Tiết ấy phải cùng vậy. Duyệt dĩ hành hiểm, đương vị dĩ tiết, trung chính, dĩ thông. Đây lại lấy thể quẻ, đức quẻ thích lời quẻ. Khảm ở Ngoại Quái là có tượng hiểm, Đoái ở Nội Quái là có tính duyệt; dùng một cách hòa duyệt mà đi giữa chốn hiểm, thế là Tiết được tính sợ hại.
Cửu Ngũ ở vị tôn mà lại có đức trung chính. Thế là đương vị mà hay tiết chế, có đức trung chính mà làm nên thông. Ba câu này có ba nghĩa tiếp nhau. Hễ người ta đến khi hành hiểm, tất rụt rè quá sợ thành ra người quá khiếp, bây giờ lấy cách hòa duyệt thái nhiên mà đi giữa lúc hiểm, đó là Tiết được thói khiếp. Người ta ở vị sùng cao thường đến nỗi kiêu căng phóng túng, bây giờ ở vị chí tôn mà vẫn cứ dè dặt giữ gìn, đó là Tiết được thói kiêu. Tóm hai câu ấy là đạo Tiết được rất hay, nhưng sở dĩ được như thế là vì có đức trung chính nên Tiết mà được thông.
Câu trung chính dĩ thông là đỡ cả hai câu trên ( Thông là nghĩa chữ hanh). Thiên địa tiết nhi tứ thì thành, tiết dĩ chế độ, bất thương tài, bất hại dân. Đây là thừa Thượng văn mà nói rộng cho hết đạo Tiết, công việc làm Tiết đó, há phải việc người mà thôi rư? Tức như, khí vận của trời đất, mùa nắng, mùa mưa, cơn nóng, cơn lạnh, tất thảy có chừng mực. Vậy nên Thu không Thu hoài, Xuân không Xuân mãi mà bốn mùa mới nên. Trời đất như thế nên thánh nhân bắt chước trời đất mà trì nước, trì dân, bày đặt ra mỗi thức chế độ, để hạn tiết tình dục của loài người, có tiêu phí mà không xa xỉ, có công tác mà không quá lao.
Vì có tiết chế như thế nên không tổn hại đến của, không tàn bạo đến dân. Sở dĩ kết quả được như thế là chỉ tạo nhân vì thay tiết mà thôi. Tiết dĩ chế độ, bất thương tài, bất hại dân, ba câu ấy ý nghĩa liên tiếp với nhau. Bởi vì hạn tiết bằng chế độ nên tham quan ô lại, phải nép vào trong phạm vi hạn tiết mà kết quả được bất thương tài; của công đã không hao tổn thời của tư càng ngày càng dồi dào, cách sinh hoạt của nhân dân mới khỏi sự nguy hiểm mà kết quả được bất hại dân.
Sách Luận Ngữ có câu Tiết dụng nhi ái nhân, nghĩa là có dè đặt ở việc tiêu dùng mà sau mới có tiền của làm được việc yêu người, chính là nghĩa quẻ Tiết. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Trạch thượng hữu thủy, Tiết. Quân tử dĩ chế số độ, nghị đức hạnh. Ở trên Đoái trạch có Khảm thủy, tượng là nước đựng vào trong chằm, chằm có hạn tiết mà nước khỏi chảy tràn, ấy là tượng quẻ Tiết. Quân tử xem tượng ấy mà nghĩ ra một cách để hạn tiết cho loài người. Hễ những giống vật mà cần nhu dụng ở nhân gian, có lớn nhỏ, có nặng nhẹ, có cao thấp, có tốt xấu, có giá đắt, có giá rẻ, tất thảy chế ra là từ số từ độ, theo sở năng của mỗi người mà phân cấp cho cái sở nhu, không để ai quá ít mà thiệt, không để ai quá nhiều mà hơn, chiết trung ở số độ, chính là phương pháp làm Tiết đó vậy.
Nếu không số độ thời chừng mực lấy vào đâu, nên phải chế làm số độ, nhưng chỉ chế số độ mà thôi thời vừa hạn tiết được phần hình thức mà không hạn tiết được phần tinh thần, vật chất hữu hạn mà nhân dục vô nhai thời tiết làm sao nổi nên lại phải cân lường về phần đức hạnh. Đức là xem ở tâm tính, hạnh là xem ở việc làm, bàn bạc cân nhắc về hai điều đó. Đức hạnh có phần tốt thời hưởng thụ có hơi hơn; đức hạnh có phần kém thời hưởng thụ có hơi sút; lấy đức hạnh làm giá trị, lấy số độ làm vật báu thù.
Sở dĩ hạn tiết như thế là muốn cho loài người vật chất với tinh thần thảy nạp vào trong vòng đạo đức, toàn xã hội mà ai nấy cùng trúng tiết cả. Thế đạo có lo gì chẳng hanh nữa đâu. (Phận lượng nhiều ít gọi bằng số; phép tắc khuôn khổ gọi bằng độ; tâm lí tư tưởng gọi bằng đức; tài nghệ sự nghiệp gọi bằng hạnh. Chế là bày đặt cho có chương trình nhất định nghĩa là bàn xét cho được danh thực đúng nhau). PHỤ CHÚ: Tượng Truyện quẻ Tiết nên tham quán với Tượng Truyện quẻ Khiêm. Quẻ Khiêm thời biền đa ích quả, xứng vật bình thí; quẻ Tiết thời chế số độ, nghị đức hạnh.
Nhưng bàn tóm lại thời tượng quẻ Khiêm là mục đích mà tượng quẻ Tiết là thủ đoạn. Vì muốn bớt chốn nhiều, thêm chốn ít, nếu không chế ra số độ thời nhiều, ít lấy đâu làm chứng, nên muốn đạt mục đích biền đa ích quả tất phải chế số độ. Vì muốn xứng phân lượng mỗi người mà thí dụ cho cân bằng, nếu không cân nhắc ở nơi đức hạnh thời kẻ hơn, người kém, kẻ thấp, người cao, lấy vào đâu mà bình xứng được. Vì muốn đạt mục đích xứng vật bình thí nên phải nghị đức hạnh. Chế số độ là thủ đoạn làm cho nhiều, ít có chừng mực, nghị đức hạnh là thủ đoạn khiến cho đại giá được công bình.
Xem góp cả hai tượng thời quy mô trì quốc bình thiên hạ, cũng đã quá phần nữa rồi
Sáu Hào Của Quẻ Thủy Trạch Tiết
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初九:不出戶庭,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Bất xuất hộ đình, vô cựu. Ở vào thời Tiết là cốt làm sao cho đúng Tiết mới hay; nên đi mà đi thời đi là đúng Tiết, nên chỉ mà chỉ thời chỉ là đúng Tiết. Sơ Cửu dương cương đắc chính ở về đầu thì Tiết, có nghĩa nên thủ thân tự trọng, chưa nên vội ra đi đâu, nên Hào từ nói rằng: Bất xuất hộ đình, vô cựu, nghĩa là đã Tiết tất phải cẩn thận từ lúc đầu, mới hay hoàn toàn ở lúc sau. Tượng viết: Bất xuất hộ đình, tri thông tắc dã. Ở đầu thì Tiết mà sớm lo cẩn thận cách hành động của mình thời bất xuất hộ đình là phải.
Nhưng không phải chỉ là một mặt chỉ mà thôi. Thì có khi thông khi tắc, khi tắc mà chỉ, khi thông mà hành, nên biết thông biết tắc mà tùy thì biến hóa, nếu chỉ một mực bất xuất hộ đình mà thôi cũng chưa phải đúng với đạo Tiết. PHỤ CHÚ: Hệ tử thích Hào từ chỉ dụng nghĩa hai chữ bất xuất mà bỏ hai chữ hộ đình không nhắc đến; biết được thánh nhân học Dịch, chỉ cần học ý mà không cần học chữ, xin dịch ra đây cho tiện bể xem xét: Hệ tử nói rằng: Việc họa hoạn trong đời, há phải vô cớ mà sinh ra đâu, tất từ ở ngôn ngữ mà gây ra múi.
Làm vua mà ngôn ngữ bất mật thời đến nỗi mất tôi. Làm tôi mà ngôn ngữ bất mật thời đến nỗi mất thân. Gặp những việc mưu cơ càng nên bí mật. Nếu hở hang tiết lộ thời việc hỏng mà tai hại nảy ra. Vì thế nên quân tử thận mật mà không khinh dị xuất lời nói vậy. Hào từ chỉ bảo người ta cẩn ở hành. Hệ tử thích nghĩa lại chú trọng ở cẩn ngôn, lấy chữ “mật” làm “tiết”, so với Hào từ lấy chữ “chỉ” làm “tiết”, hai nghĩa đắp đổi phát minh cho nhau, hay cẩn thận được ngôn, mới hay cẩn thận được hành, cũng chung vào trong đạo Tiết.
Thầy Nhan tại lậu hạng, thầy Nam Dung tạm phục bạch quê, cũng thảy là bất xuất hộ đình
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:不出門庭,凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Bất xuất môn đình, hung. Ở vào thì Tiết, vẫn lấy Tiết làm hay, nhưng đã gọi bằng Tiết, tất phải Tri thì thúc biến. Thì của Cửu Nhị đã khác với thì của Sơ Cửu; ở trên có hào Cửu Ngũ đồng đức với mình, lẽ nên đem thân ra giúp việc với Ngũ, huống gì Nhị ở giữa Nội Quái thời địa vị phận vị mình cũng không đáng làm khách bằng quan. Ai ngờ Nhị lại độc thiện kì thân, đóng cửa dấu mình mà không chịu chung gánh việc đời với Ngũ, té ra Nhị chỉ là một người trất ám, biết tắc mà không biết thông, gặp được thì khả hành mà cố làm cách chỉ.
Thấy Sơ bất xuất hộ đình mà mình cũng bất xuất môn đình. Tiết mà dốt như thế, hung là đáng rồi. Chữ hung ở đây không phải là kết quả, chỉ là nói hành ví trái thì, tức là hung. Nếu Nhan Tử mà gặp đời Vũ, Tắc, gặp được vua như Nghiêu, Thuấn mà không lo trị thủy cứu dân thời cách lậu hạng đan biều của Nhan Tử cũng có thể gọi bằng thất tiết. Tượng Truyện hào Sơ đã nói rằng: Tri thông tắc. Thì Sơ nên tắc mà tắc, mới gọi rằng người biết thì, thì Nhị nên thông mà lại làm cách tắc, chính là người không biết thì.
Xưa có câu: “Khôn chết, dại chết, biết sống”. Biết tức là nghĩa chữ tri. Sơ vì tri tắc nên bất xuất hộ đình mà vô cựu; Nhị vì bất tri thông nên bất xuất môn đình mà hung. Khó vậy thay! Tiết mà biết thông đó vậy. Tượng viết: Bất xuất môn đình, hung, thất thì, cực dã. Cửu Nhị ở vào thì Tiết mà gặp được cương trung đồng đức như hào Cửu Ngũ, lẽ nên đem thân ra gánh việc đời. Nhị trở lại bất xuất môn đinh, Thì đến mà bỏ mất thì, thiệt đáng quá ngán cho Nhị vậy. Vì vậy mà Hào từ nói rằng: Hung
Hào 3 — Lục Tam
Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六三:不節若,則嗟若,无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Bất tiết nhược tắc ta nhược, vô cựu. Lục Tam âm nhu mà lại bất trung chính, cưỡi hai hào dương cương mà lâm lấy Khảm hiểm, gặp hoàn cảnh như thế, vẫn dễ mắc tội lỗi, nhưng ở vào thì Tiết, nếu mình hay tiết lấy mình, còn may khỏi tội lỗi, nhưng mà nhân cách như Lục Tam, chẳng bao giờ tiết nổi. Ăn càn nói dở, rước vạ vào mình, tất đến nỗi than vãn đau đớn. Sự đó mình làm mình chịu, còn trách lỗi được ai. Nghĩa chữ vô cựu ở đây là nghĩa đặc biệt trong Kinh, xem Tượng Truyện thời hiểu.
Tượng viết: Bất tiết chi ta, hựu thùy cựu dã. Đã bất tiết thời đến nỗi ta, còn đổ lỗi cho ai được nữa. Chữ vô cựu ở các hào thời nghĩa là không tội lỗi gì, duy Hào từ Lục Tam quẻ Tiết với Lục Tam quẻ Giải thời là hựu thùy cựu dã, nghĩa là lại đổ lỗi cho ai đặng
Hào 4 — Lục Tứ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六四:安節,亨。
Phan Bội Châu chú giải:
An tiết, hanh. Lục Tứ nhu thuận đắc chính, trên thừa tiếp Cửu Ngũ, tự bản thân Tứ vẫn đã an ở chính mà địa vị Tứ lại vừa đúng gặp thì. Tiết vừa thích phải mà cứ thuận tiện làm, không cần phải miễn cưỡng. Thế là an tiết mà được hanh thông. Hào từ này tinh thần chỉ tại chữ an, nghĩa là lấy Tiết làm thích, không phải kiểu sức mà làm. Thường tình người ta ở vào thì Tiết hay kiểu sức làm Tiết. Đã kiểu sức thời không được lâu dài nên Tiết mà không được hanh thông. Muốn được hanh thông, tất phải an tiết như Lục Tứ.
Tượng viết: An tiết chi hanh, thừa thượng đạo dã. Tứ hay an tiết mà được hanh là vì thuận thừa đạo cương trung của Cửu Ngũ vậy (Thượng là chỉ vào Cửu Ngũ)
Hào 5 — Cửu Ngũ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九五:甘節,吉;往有尚。
Phan Bội Châu chú giải:
Cam tiết, cát, vãng hữu thượng. Chữ cam phản đối với chữ khổ. Tiết mà lấy làm khó chịu thời gọi bằng khổ. Tiết mà xem bằng ngon ngọt thời gọi bằng cam. Toàn quẻ Tiết, duy Cửu Ngũ là rất tốt, thân Ngũ vừa ở vị chí tôn, lại đủ cả đức dương cương, trung chính, lấy một người tư cách rất cao, địa vị rất xứng mà làm chủ cho thì Tiết, Tiết tự một mình mà Tiết đến cả thiên hạ, chế ra số độ, nghị được đức hạnh, tự mình tiết mà mình vui, bảo thiên hạ tiết mà thiên hạ thuận, tiết bằng một cách ngon ngọt.
Thế là cam tiết, chắc được tốt lành. Cứ như thế mà tấn hành, tất lại có công lớn mà đáng khen nữa. Hào từ này chính đúng với Soán Truyện, trên kia Soán Truyện đã nói rằng: Đang vị dĩ tiết, trung chính dĩ thông, sở dĩ cam tiết mà cát là vì thế. Tượng viết: Cam tiết chi cát, cư vị, trung dã. Vì địa vị sở cư của Ngũ, đã được vị chí tôn mà lại được trung đạo nên cam tiết mà cát. Ngũ đủ cả trung lại chính, nhưng Tượng Truyện chỉ nói một chữ trung. Vì Tiết quý nhất là trung.
Chính mà quá trung cũng không phải đạo Tiết. Nếu đã trung tức là chính rồi, nên Tượng Truyện chỉ nói chữ trung
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:苦節,貞凶,悔亡。
Phan Bội Châu chú giải:
Khổ tiết, trinh hung, hối vong. Thượng Lục ở về cuối cùng thì Tiết là Tiết chi cực. Tiết cực là Tiết mà thái quá, quá Tiết tức là khổ tiết, hễ khổ tiết thời bất khả trinh, nên cố thủ lấy cách ấy mãi, tất đến nỗi hung ( Trinh nghĩa là bền giữ). Bây giờ nghĩ cách bổ cứu cho Thượng Lục: chỉ nên hối cải lỗi ấy, bớt thái quá mà làm cho thích trung, biết hối như thế thời hung họa tan mất được. Chữ hối vong ở đây, với chữ hối vong ở mọi quẻ, văn tuy đồng mà ý khác nhau; hối vong ở mọi quẻ là những điều hối được vong, còn hối vong ở đây là biết hối thời vong được hung.
PHỤ CHÚ: Tiết vẫn là một đạo lí hay, nhưng cần phải đắc trung. Lục Tam bất tiết thời ta nhược mà mắc tội lỗi bất cập. Thượng Lục khổ tiết thời trinh hung là mắc lỗi thái quá. Đức Khổng có nói quá do bất cập, thảy không phải là thiện đạo, chỉ duy đắc trung như Cửu Ngũ mới là cam tiết. Tượng viết: Khổ tiết, trinh hung, kì đạo cùng dã. Tiết đã đến khổ là tiết cực rồi, còn cố thủ lấy khổ đó, tất nhiên không thể thông hành được, đạo ấy phải cùng vậy. Nên Hào từ nói rằng: Trinh hung.
Hào từ này rất giản đơn mà ý nghĩa rất sâu. Tiết vẫn nên trinh mà trinh lấy cái khổ thời không hay. Tiết đáng không hối, nhưng khổ thời phải hối. Hối cái khổ mà làm cho vừa đến cam thời hung mới [hết] được. Nếu nhận lầm chữ hối dính với chữ tiết thời thánh nhân có bao giờ dạy cho người ta bất tiết đâu. Duy khổ ở tiết thời mới nên hối. PHỤ CHÚ: Quẻ Tiết ở sau Hoán là Dịch lí rất hay, quốc gia xã hội đã trải qua một cuộc hoán tán rồi. Phong tục đồi bại đã quá nhiều, công nghệ hoang phế đã quá lắm, trật tự đã biết bao nhiễu loạn, kinh tế đã biết bao cùng quẫn, sinh sản lực tất kém sút hơn xưa, đạo đức mới toan đánh đổ cái cũ.
Nếu khi ấy mà không dùng đạo Tiết, sống xa xỉ ngày càng lung tung, thế vật chất ngày càng bành trướng làm nguy hiểm cho thế đạo biết đến chừng nào. Vậy nên sau thì Hoán rất cần là phải có Tiết, đường tài chính có tổn tiết mới hay, đường giáo dục phải tiết văn cho vừa thích, ở quân luật phải tiết chế cho nghiêm minh, ở triều đình thời phải sùng trọng danh tiết, công việc làm Tiết rất nhiều, nhưng tổng chi, chỉ là bổ tệ ở sau lúc Hoán. Nhưng mà Tiết tất phải cho đắc trung, quá khổ thời nhân tình bất kham, quá cam thời nghĩa lí không đúng, nên trong sáu hào, theo địa vị mỗi hào mà cốt cho đáng vị, đáng vị tức là hợp thì.
Vị mỗi hào chính là thì mỗi hào. Tiết đúng với thì thời hay, Tiết không đúng với thì thời không hay. Sơ Cửu, Lục Tứ, Cửu Ngũ, rặt đúng vị mà Tiết đúng với thì nên Ngũ cát, Tứ hanh, Sơ vô cựu. Cửu Nhị, Lục Tam rặt là bất đáng vị mà Tiết trái với thì, vậy nên Nhị hung mà Tam ta nhược. Lại xem ở mỗi hai hào dếnh nhau thời hào nghĩa trái nhau. Sơ dếnh với Nhị, Sơ bất xuất hộ đình thời vô cựu, Nhị bất xuất môn đình thời lại hung. Đó là Nhị trái với Sơ.
Tam dếnh nhau với Tứ, Tứ đắc chính thời là an tiết, Tam bất chính thời bất tiết. Đó là Tam trái với Tứ. Ngũ với Thượng dếnh nhau, Ngũ cương mà đắc trung thời Tiết mà cam, Thượng quá trung thời tiết mà khổ, ấy là Thượng trái với Ngũ. Mỗi hai hào dếnh nhau mà vẫn hai hào trái nhau. Thánh nhân sở dĩ bày đặt như thế, há phải xuyên tạc đa sự đâu. Than ôi! Loài người phức tạp, vật tình bất tề, tiết vẫn là hay mà không thể cấm người ta toàn không bất tiết, mà huống gì thì Hoán vừa qua, đạo Tiết chưa thịnh làm thế nào mà khỏi trái nhau rư?
Thánh nhân chỉ duy đem chân lí mà bày vẽ cho người ta, ai hay thời chứ, ai dở thời dè. Tiết rư? Bất Tiết rư? Thời tùy ở người học Dịch
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thủy Trạch Tiết là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Thủy Trạch Tiết Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 60 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thủy Trạch Tiết Là Gì?
Thượng quái là Khảm, tượng nước; hạ quái là Đoài, tượng đầm. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 節: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thủy Trạch Tiết. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 59: Phong Thủy Hoán · Quẻ 61: Phong Trạch Trung Phu


Hotline