Quẻ Hỏa Sơn Lữ: Người Đi Xa Và Cách Xử Sự, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Hỏa Sơn Lữ số 56: Ly trên, Cấn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Hỏa Sơn Lữ (旅) là quẻ số 56 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Ly (lửa), hạ quái là Cấn (núi). Lữ nói về khách đi xa, người ở nơi không phải chỗ thường trú. Những hình tượng chỗ trọ, hành trang và người giúp việc trong sáu hào được đọc trong hoàn cảnh thiếu căn cơ ổn định.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Hỏa Sơn Lữ Là Gì?

Số thứ tự 56/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Hỏa Sơn Lữ — 旅
Thượng quái Ly — Lửa
Hạ quái Cấn — Núi
Hào dương 3
Hào âm 3

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Cấn, ba hào sau tạo thượng quái Ly. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Hỏa Sơn Lữ

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

旅:小亨,旅貞吉。

Nguyên Văn Thoán Truyện

旅,小亨,柔得中乎外,而順乎剛,止而麗乎明,是以小亨,旅貞吉也。旅之時義大矣哉!

Nguyên Văn Đại Tượng

山上有火,旅;君子以明慎用刑,而不留獄。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Ly trên, Cấn dưới Quẻ này là quẻ Hỏa Sơn Lữ. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Li thượng cũng là Ngoại Li. Li hỏa, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Sơn Lữ. TỰ QUÁI Tự quái: Phong giả đại dã, cùng đại giả tất thất kì cư, cố thụ chi dĩ Lữ. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Phong tiếp lấy quẻ Lữ là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Phong, Phong nghĩa là thịnh lớn, thịnh lớn đã cùng cực, tất đến nỗi mất chốn ở mà phải đi ở độ. Vậy nên sau quẻ Phong tiếp lấy quẻ Lữ.

Lữ nghĩa là bỏ nhà mà đi ra ngoài làm khách. Theo về thể quẻ, trên Li là hỏa, dưới Cấn là Sơn; sơn ở một chốn mà hỏa thời không nhất định ở chốn nào. Hỏa ở trên sơn chỉ là cách ở độ mà thôi, nên đặt tên bằng Lữ. SOÁN TỪ Lữ, tiểu hanh. lữ trinh, cát. Theo về tượng quẻ, Cấn sơn thời chữ ở dưới, Li hỏa thời thột nhiên đỏ ở trên, chỉ là ở tạm trong một lúc mà thôi. Sơn nhờ có hỏa mà được sáng tạm trong một lúc, chỉ là hanh thông chút đỉnh. Nếu lửa tắt thời núi vẫn tối đen, nên nói rằng: Lữ, tiểu hanh, nghĩa là, người đã đến lúc phải đi làm khách, có làm gì được việc lớn nữa đâu, nhưng còn mong cho người làm khách đó biết giữ lấy đạo trinh chính thời dầu không phải đất nước mình mà những người dung trữ mình không ai chán ngán, còn có thể tốt lành được.

PHỤ CHÚ: Lữ là một cảnh ngộ đặc biệt của loài người, lìa họ hàng thân thích, bỏ mồ mả nhà cửa đi ra làm một người lữ khách ở viễn phương, còn có lấy gì làm sung sướng đâu, nhưng cảnh đời thường có biến, việc người có cùng có thông, ở vào cảnh cùng biến mà vẫn có một đạo lí thông thường. Tức như: Đức Khổng tuyệt lương ở Trần Thái, Mạnh Tử bất ngộ Tề, Lương, chẳng phải là thánh hiền cũng có lúc cơ lũ đó ru? Nhưng đạo nghĩa ở giữa bản thân thời bao giờ cùng không thay đổi.

Tuy không làm sự nghiệp lớn, nhưng mà chính nghĩa chính đạo, tới đâu cũng vẫn làm ơn cho người. Như thế là: Lữ trinh mà vẫn được cát. Nói tóm lại, lữ mà bất trinh như Trần Ích Tắc nước ta, đi ở độ đất nước Nguyên mà toan bán nước cầu vinh, kết quả, chốn thân ở nước ngoài mà nhà Trần không nhận anh là người tôn thất, chẳng phải lữ bất trinh thời trung hay sao. Kìa ông Ky Tử ở đời nhà Thương, vì không chịu làm tôi với nhà Chu mà qua ở nước Triều Tiên, lấy văn tự Trung Quốc dạy cho người Triều Tiên, đặt ra giáo lịnh thập điều dạy cho người Triều Tiên, tới bây giờ người Triều Tiên còn nhận ông làm quốc tổ.

Lại như ông Sĩ Nhiếp vì tránh loạn Tam Quốc mà sang nước ta, bắt đầu lấy Hán văn dạy cho người nước ta, trọn đời ở nước ta, bây giờ người nước ta còn gọi ông là Sĩ Vương Tiên. Như hai người ấy, chẳng phải lữ trinh mà cát hay sao? Dịch lí là bao bọc tất thảy thiên đạo và nhân sự. Ở trong loài người năm châu bốn bể, giao thông trộn nhau thời Lữ cũng là một việc phải có, nhưng tất phải tiểu hanh mà giữ đạo chính thời thân người lữ đã hay mà người làm chủ cho lữ cũng cảm tình thân thiết.

Đó là một đạo lí của người ở đời vậy. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Lữ, tiểu hanh, nhu đắc trung hồ ngoại, nhi thuận hồ cương, chỉ nhi lệ hồ minh, thị dĩ tiểu hanh, Lữ trinh cát dã. Lữ chi thì nghĩa đại hĩ tai. Soán viết: Lữ, tiều hanh, nhu đắc trung hồ ngoại, nhi thuận hồ cương, chỉ nhi lệ hồ minh, thị dĩ tiểu hanh, Lữ trinh cát dã. Đây chỉ nói riêng bằng Lục Ngũ, bởi vì Lữ là không phải quẻ tốt, người gặp vào cảnh ngộ đã phải ở đất khách quê người. Thế lực vẫn không ở giữa mình, vả sinh nhai chỉ là tác khách, quá ti thời mắc lấy nhục làm cao thời mắc lấy họa.

Người ở vào cảnh ngộ ấy, cần nhất là một chữ minh nên Soán Truyện chỉ lấy riêng một hào Ngũ. Ngũ ở giữa Ngoại Li, Li là thể minh, Ngũ làm chủ cho Li là minh chi cực nên biết lựa cơ chiều thế, tiếp vật đãi nhân, dùng một cách nhu hòa mà lại đắc trung đối với bề ngoài như thế, đụng gặp cương cường thời dùng bằng một cách hòa thuận, yên lặng mà dựa vào đức minh của mình. Lữ mà được như thế thời trong không đến nỗi thất kỉ, ngoài không đến nỗi thất thân, chân bèo cánh bọt mặc dầu mà mình chẳng mất danh giá.

Vì thế mà được tiểu hanh, Lữ trinh cát. Lữ chi thì nghĩa đại hĩ tai. Lữ là cảnh nghịch, lại là cảnh rất khó xử mà đạo lí ở thì Lữ lại khó khăn hơn mọi Thì, cương đã không xong mà quá nhu lại càng không được, ám vẫn vô dụng mà thái minh lại sợ mất lòng người, chẳng phải một bậc Thánh triết mà xử vào thì Lữ, tất khó đúng với nghĩa lí và hợp với cơ nghi, nên nói rằng: Nghĩa tùy Thì của thì Lữ lớn rồi vậy thay. PHỤ CHÚ: Soán Truyện ở quẻ Lữ không nói chữ thì dụng mà chỉ nói chữ thì nghĩa, bởi vì người đã xử vào cảnh Lữ khốn, thiệt chẳng trông mong gì có tác dụng, chỉ lo cho khỏi trái nghĩa lí mà thôi, nên chỉ nói thì nghĩa.

Kìa như quẻ Khảm, quẻ Khuê, còn có công dụng làm được nhiều, duy đến Lữ thời chữ nghĩa là vừa đủ. Lữ mà khỏi tránh nghĩa tức là hợp thời. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Sơn thượng hữu hỏa, Lữ. Quân tử dĩ minh thận dụng hình nhi bất lưu ngục. Tượng Truyện ở đây, không lấy nghĩa chữ Lữ mà chỉ lấy bằng tượng quẻ Lữ. Ở trên Cấn sơn có Li hỏa, tượng là trên núi có lửa rọì sáng, quân tử xem tượng ấy bắt chước làm việc hình luật, soi xét tình hình người, dùng bằng cách minh đoán, phán quyết tội phạm dùng bằng cách cẩn thận, có đức minh như hỏa mà lại mau chóng cũng như hỏa, gặp có việc ngục thời xử đoán tức khắc, không để phạm nhân lưu trệ trong ngục.

Đó là bắt chước lấy tượng hỏa sơn đó vậy: Cẩn thận in như sơn chỉ, minh đoán in như hỏa quang

Sáu Hào Của Quẻ Hỏa Sơn Lữ

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初六:旅瑣瑣,斯其所取災。

Phan Bội Châu chú giải:

Lữ tỏa tỏa, tư kì sở thủ tai. Sơ Lục bản chất âm nhu mà lại ở dưới hết thì Lữ, chính là một hạng người nhu nhược ti hạ, gặp cùng đồ mà không biết tùy thì lựa thế. Đã ở vào cảnh Lữ mà còn tham lam bẩn thỉu, đối đãi với Lữ chủ, kể tẳn mẳn từ một ti một hào. Người Lữ mà tỏa tỏa như thế chỉ là tai họa vì mình tự thủ mà thôi. (Tỏa tỏa nghĩa là tẳn mẳn, tỉ mỉ). Tượng viết: Lữ tỏa tỏa, chí cùng tai dã. Người ở cảnh Lữ mà còn tỏa tỏa thủ tai là vì chí ý đã cùng bức, thành ra tiểu nhân cùng mà lạm vậy nên mắc lấy tai vậy.

PHỤ CHÚ: Kinh Thi có câu: Người đã tẩn mẳn nhỏ nhen vậy mà lại đến lúc cuối cùng vậy, kết quả chỉ là một anh lưu li vậy, chính đúng với hào này

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:旅即次,懷其資,得僮(一作童)僕貞。

Phan Bội Châu chú giải:

Lữ tức thứ, hoài kì tư, đắc đồng bộc, trinh. Lục Nhị là một người tốt nhất trong thì Lữ. Hào Lục ở vị Nhị là có đức nhu thuận, vừa lại đắc chính đắc trung, vẫn là một người có nhân cách mà lại chính ứng ở trên có Lục Ngũ, văn minh đắc trung, vẫn là một người có tư cách làm thầy cho Nhị. Ở trong thì Lữ Ngũ mà gặp được hoàn cảnh như thế nên được chốn trú nghỉ an lành ( Tức nghĩa là tới; thứ là chốn trú nghỉ). Khách đi đường mà đã tới chốn trú nghỉ là an thích đã xong, lại ôm giữ được tiền của, khỏi lo nỗi đói thiếu, ở trong lúc đất khách quê người.

( Hoài nghĩa là chứa trữ; tư nghĩa là tiền của để làm lộ phí). Ở đành an rồi, lữ phí sẵn rồi, lại may nữa được tên tớ theo mình đó cũng ngay thật dễ tin, khỏi lo về sự bị người lừa gạt. Tượng viết: Đắc đồng bộc trinh, chung vô vưu dã. Người gặp thì Lữ mà may gặp được đồng bộc trung trinh với mình, tất kết quả không ai trách lỗi mình vậy. PHỤ CHÚ: Hào từ này xem với việc Tấn Văn Công ở Tả Truyện thời rất đúng. Tấn Trùng Nhĩ là một người mất ngôi, bỏ nước chạy ra nước ngoài, lưu lạc vừa mười chín năm, thậm chí xin ăn với người cày ruộng, chịu nhục với đại phúc nước Tào mà chỉ vì có năm người đi theo hầu, tất thảy có đủ tài giúp việc nước, kết quả được trở về nước Tấn làm bá chư hầu.

Thế mới biết, Hào từ tượng từ ở đây, không phải là không sự thực. Hào từ nói ba câu mà Tượng Truyện chỉ chú trọng một câu “Đắc đồng bộc trinh”, lại rất có ý nghĩa. Dịch đến đây, thột nhớ đến chuyện vua Gia Long khi ngài bị Tây Sơn đuổi, chạy trốn lên Xiêm La. Trung thần là Nguyễn Huỳnh Đức bị vua Quang Trung bắt sống. Quang Trung muốn thu dụng Huỳnh Đức, hết sức dỗ dành, đêm cho vào ngủ chung một giường, nhưng Huỳnh Đức không đổi lòng, ngoài mặt vẫn phục thuận với Quang Trung mà ngày đêm vẫn tư tưởng Cố Chúa.

Một hôm, ngủ bên cạnh Quang Trung, thột nhiên nói mớ rằng: Giết giặc Huệ, giết giặc Huệ. Quang Trung biết được ý, sáng ngày mai hỏi Huỳnh Đức rằng: Ta hỏi thiệt ngươi, ta đối với ngươi rất tử tế, nhưng ý thật ngươi ra thế nào? Huỳnh Đức thưa thiệt rằng: Tôi vẫn cảm ơn Ngài, nhưng không thể nào khiến tôi quên được Chúa tôi, hễ bao giờ tôi biết được Chúa tôi ở đâu thời tôi đi ngay. Quang Trung vui lòng mà bảo rằng: Chúa anh bây giờ ở Mang Cốc, nay ta cho người dẫn đường đưa anh đi.

Sáng ngày mai, vua Quang Trung nhóm hết các tướng bộ hạ, dọn tiệc tiễn biệt Nguyễn Huỳnh Đức, khiến người dẫn đường đưa Huỳnh Đức qua Xiêm. Huỳnh Đức đi đến Mang Cốc vào yết kiến vua Gia Long. Thoạt thấy nhau, ôm đầu gối vua Gia Long khóc nghẹn một hồi lâu, không nói được một lời. Lúc bấy giờ vua Xiêm thấy mà than rằng: Châu An Nam có tôi như thế, chẳng về được nước có lẽ gì? Vua Xiêm nhân đó mới xuất viện binh đưa Cao Hoàng về Gia Định, đó mới biết đắc “đồng bộc trinh” là việc rất tốt trong thì Lữ

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:旅焚其次,喪其僮(一作童)僕,貞厲。

Phan Bội Châu chú giải:

Lữ, phần kì thứ, táng kì đông bộc, trinh lệ. Hào Cửu ở vị Tam là một người quá cương bất trung mà lại ở trên Nội Quái, địa vị sơ xử, lại là tớ không phải tớ, thầy không phải thầy, rặt trái với đạo lí ở thì Lữ. Lữ là cốt nhu thuận mà Tam lại quá cương, Lữ là cốt ý khiêm ty mà Tam lại tự cao nên nỗi Lữ chủ phải đuổi Tam, té ra mình tự đốt lữ quán của mình. Chẳng những thế mà thôi, vì Tam cương bạo nên thầy tớ Tam cũng bỏ Tam, té ra mất cả thầy tớ.

Cách cử động của Tam như thế, nếu tâm sự của Tam có chính chăng nữa, kết quả cũng nguy mà thôi. Phần kì thứ là mất lòng kẻ trên; táng kì đồng bộc là mất lòng kẻ dưới. Ở vào cảnh Lữ mà mất lòng người như thế, tuy xuất thân vẫn chính mà trái thì nghịch thế không nguy được hay sao? Tượng viết: Lữ, phần kì thứ, diệc dĩ thương hĩ; dĩ Lữ dữ hạ, kì nghĩa táng dã. Lữ mà đến nỗi phần kì thứ, cũng đã đau đớn lắm rồi. Ở vào thì Lữ mà đối đãi với người dưới thất cách như Cửu Tam, theo về nghĩa thì Lữ, tất nhiên phải mất thầy tớ đó vậy

Hào 4 — Cửu Tứ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九四:旅于處,得其資斧,我心不快。

Phan Bội Châu chú giải:

Lữ vu xử, đắc kì tư phủ, ngã tâm bất khoái. Cửu Tứ tuy dương cương bất đắc trung, nhưng ở vào vị nhu, lại ở dưới hết Ngoại Quái, thế là thể cương mà biết dụng nhu, thượng thể mà hay tự hạ, chính là người thiện xử ở thì Lữ, tuy không được “tức thứ” như Lục Nhị, nhưng cũng được chốn ở tạm mà lại sẵn những đồ tiền của vật liệu, vừa đủ phòng bị trong hồi lữ thứ ( Tư nghĩa là tiền của để làm lữ phí; phủ là đồ võ trang để hộ thân, nghĩa đen thời phủ nghĩa là búa, nhưng ở đây chỉ nói bằng đồ hộ thân).

Có chốn ở, lại được tư phủ, ở thì Lữ như thế, vẫn không khổ gì, nhưng vì ở trên không người giúp đỡ cho mình vì trên là Tứ, Ngũ âm nhu vô lực, mà ở dưới cũng không người gánh việc với mình, vì Sơ là chính ứng cũng âm nhu, âm nhu ty hạ; một mình đất khách, mình tự vệ mình nên trong lòng không lấy gì làm vui vẻ. Tượng viết: Lữ vu xử, vị đắc vị dã, đắc kì tư phủ, tâm vị khoái dã. Người lữ hành mà mục đích cốt tại đi mà bây giờ chỉ phải tạm ở là vì địa vị của Tứ còn chưa đáng đó vậy.

Địa vị hãy còn chưa được thời tuy đắc tư phủ mặc lòng mà mục đích vẫn chưa đạt nên trong lòng không lấy gì làm sướng

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:射雉一矢亡,終以譽命。

Phan Bội Châu chú giải:

Thiệc trĩ, nhất thỉ vong, chung dĩ dự mệnh. Theo thường lệ mỗi quẻ hào Ngũ là vị quốc quân nhưng vì ở vào thì Lữ nếu quốc quân mà cũng làm lữ khách té ra ông vua mất nước, nên hào này không lấy bằng nghĩa quốc quân mà chỉ lấy nghĩa lữ nhân. Lục Ngũ có đức văn minh nhu thuận mà lại xử được vị trung: Minh thời hiểu được nhân tình, nhu thời hợp với thì nghĩa, đắc trung thời đối đãi với người trên, kẻ dưới thảy được bằng lòng. Xử vào cảnh Lữ mà được hay như thế là một người khôn khéo rất mực, chắc cử động đúng lẽ, trên kính dưới yêu, tuy tổn phí trong buổi Lữ ít nhiều, nhưng giá trị văn minh kết quả ở giữa mình được, tượng như bắn trúng con chim trĩ, tuy có hao một mũi tên mà cuối cùng đã được tiếng khen, lại được phúc lộc.

Tri là con chim có văn thái là một vật văn minh. Bắn được chim trĩ nghĩa là chuốc được lị ích bằng văn minh. Nhất thỉ là một mũi tên, mất một mũi tên, ví bằng hao tổn chút đỉnh; dự là tiếng khen; mệnh là phúc lộc. Kết quả được tiếng khen với phúc lộc là vi có đạo nhu trung, có đức văn minh, chính là một người rất cao quý ở thì Lữ. Tượng viết: Chung dĩ dự mệnh, thượng đãi dã. Ở trên Lục Ngũ, còn có Thượng Cửu, thời Lục Ngũ chưa phải là vị trí cao, nhưng dự mệnh đã tóm vào mình thời cũng chẳng bao lâu cũng tấn lên đến ngôi tột mực

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:鳥焚其巢,旅人先笑後號咷。喪牛于易,凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Điểu phần kì sào, lữ nhân, tiên tiếu, hậu hào đào, táng ngưu vu dị, hung. Hễ người ăn ở đậu, không lẽ gì mà ở trên hết người ta được. Nay Thượng lại ở vào vị trên hết người, Lữ là nghịch cảnh nên xử bằng cách nhu thuận là phải, nhưng Thượng tính chất quá cương, vị mình xử cao, đã trái mắt người mà tính mình cương lại mất lòng người, tất nhiên ở vào đâu cũng phải trúc đổ, chẳng khác gì chim bị cháy tổ. Người lữ hành cốt dựa vào địa chủ, cũng như chim đậu cây cốt nhờ ở tổ, bây giờ điểu đã phần kì sào nghĩa là bị địa chủ đuổi mình.

Cách hành động của một người lữ hành mà như Thượng Cửu này, tất nhiên lúc đầu thời hớn hở mà ra dáng cười xòa, sau lại buồn rầu mà nghe tiếng kêu khóc. Thượng Cửu sở dĩ kết quả khốn nạn như thế là vì sao? Bởi vì người ở vào cảnh Lữ, chỉ cốt thuận với đạo Lữ, mới được đầu đi đuôi lọt mà họa may tốt lành chăng. Bây giờ Thượng Cửu kiêu ngạo khinh táo, bỏ mất tính nhu thuận bằng một cách khinh dị, mắc hung họa là đáng rồi, nên Hào từ nói: Táng ngưu vu dị, hung ( Ngưu là giống rất nhu thuận, mất trâu là ví dụ bằng mất đức thuận).

Tượng viết: Dĩ Lữ tại thượng, kì nghĩa phần dã, táng ngưu vu dị, chung mạc chi văn dã. Lấy một người lữ khách mà ở ngôi trên hết người, theo như thì nghĩa Lữ tất đến nỗi chim cháy tổ vậy. Táng ngưu vu dị là dùng một cách dung dị láu táu mà bỏ mất đức thuận ở thì Lữ, người ngu ám đến thế, tất không bao giờ biết hối ngộ vậy. Chung mạc chi văn dã nghĩa là dầu ai bày dạy cũng chẳng nghe. PHỤ CHÚ: Đọc suốt Quái từ, Hào từ quẻ Lữ mà phát sinh một mối cảm tưởng.

Xử cảnh rất khốn nạn, không gì bằng Lữ, thiệp thế rất khó khăn cũng không gì bằng Lữ. Tạp quái nói rằng: Lữ là ít người thân yêu là đường cùng khốn của người vậy. Lữ nghĩa là ở gửi, địa vị đã là chấn động. Lữ là khách đi đường, tình hình lại là cánh chắp. Đối với ngoài mà thái ti thời đến nỗi thủ nhục, tự thị mình mà thái cao thời đến nỗi mang vạ. Thái ti như Sơ Lục nên nỗi tỏa tỏa mà thủ tai, thái cao như Thượng Cửu nên nỗi phần sào mà táng ngưu. Cao hơn ở Nội Quái như Cửu Tam mà mắc tội quá cương đến nỗi phần thứ táng bộc.

Tuy lên Ngoại Quái như Cửu Tứ nhưng vì không ứng viện nên dầu có đắc tư phủ mà tâm bất khoái. Ở thì Lữ khó trọn vẹn như thế thời chúng ta nên thế nào? Nên xem ở Hào từ Nhị với Ngũ, hai hào ấy thảy đắc trung và nhu thuận. Vì có đức trung nên tự xử trong mình bất cao cũng bất ti, vì có tính nhu thuận nên ứng phó với hoàn cảnh không kiêu cũng không lẫn. Cách xử thì Lữ của Cửu Nhị, Ngũ là như thế nên Lục Nhị thời “tức thứ hoài tư” mà lại “đắc đồng bộc, trinh”, Lục Ngũ thời được dự mệnh ở lúc chung.

Ở vào cảnh ngộ chân đăng cánh chắp mà muốn cho ba vuông bảy tròn, thiệt không gì hơn chữ trung với chữ nhu nữa vậy. Lại một ý nữa, toàn sáu hào không một chữ cát, chữ hanh nào cả là ý đặc biệt trong Dịch. Chúng ta phải biết, dở sinh gặp hồi đen rủi, đứng vào bước lưu li, gửi thân ở đất quê người, dựa bóng vào chân núi khách, may khỏi tai họa là hạnh phúc đã lớn rồi. Vậy nên trung chính như Lục Nhị, văn minh nhu trung như Lục Ngũ mà Hào từ không cho chữ cát, hanh.

Huống gì quá cương bất trung như Cửu Tam, Thượng Cửu nữa rư? Vậy nên người ở vào thì Lữ nên mang chặt lấy hai chữ nhu, trung làm bùa hộ thân. Tuy nhiên, theo về Dịch lí cùng thông đắp đổi, họa phúc cặp kè, có người nào mà Lữ mãi rư? Có Lữ nào mà khôn mãi rư? Nên ở đầu Quái từ có chữ “tiểu hanh”, chữ “trinh cát”, nhưng hanh chỉ tiểu mà thôi, cát lại phải có trinh mới được; đạo lí ở thì Lữ thiệt không sót một tí gì

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Hỏa Sơn Lữ là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Hỏa Sơn Lữ Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 56 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Hỏa Sơn Lữ Là Gì?

Thượng quái là Ly, tượng lửa; hạ quái là Cấn, tượng núi. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 旅: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Hỏa Sơn Lữ. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 55: Lôi Hỏa Phong · Quẻ 57: Thuần Tốn

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline