Quẻ Thuần Tốn (巽) là quẻ số 57 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Tốn (gió), hạ quái là Tốn (gió). Tốn gắn với gió và sự thuận nhập. Hai quái Tốn chồng nhau được lời Thoán liên hệ đến việc nhắc lại mệnh lệnh; sự mềm thuận cần có trung chính để khỏi thành nhu nhược.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Thuần Tốn Là Gì?
| Số thứ tự | 57/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Thuần Tốn — 巽 |
| Thượng quái | Tốn — Gió |
| Hạ quái | Tốn — Gió |
| Hào dương | 4 |
| Hào âm | 2 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Tốn, ba hào sau tạo thượng quái Tốn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thuần Tốn
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
巽:小亨。利有攸往。利見大人。
Nguyên Văn Thoán Truyện
重巽以申命,剛巽乎中正而志行。柔皆順乎剛,是以小亨,利有攸往,利見大人。
Nguyên Văn Đại Tượng
隨風,巽;君子以申命行事。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Tốn trên; Tốn dưới Quẻ này là quẻ Bát Thuần Tốn. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Trong ngoài trên dưới thảy Tốn, nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Tốn. TỰ QUÁI Tự quái: Lữ nhi vô sở dụng, cố thụ chi dĩ Tốn, Tốn giả nhập dã. Ý sắp đặt thú tự quẻ. Sau quẻ Lữ tiếp lấy quẻ Tốn là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Lữ, Lữ là khách ở độ, trong lúc ở độ thường sợ không chốn dung mình tất phải dùng bằng cách Tốn thuận, có Tốn thuận mới nhập được người.
Vậy nên sau quẻ Lữ tiếp lấy quẻ Tốn. Tốn nghĩa là thuận, lại nghĩa là nhập là vào. Do Tốn thuận mà vào, chính là phương pháp trong lúc Lữ. Theo về thể quẻ, nhị dương ở trên, chế phục được nhất âm khiến cho nhất âm phải thuận tòng với nhị dương, nên đặt tên quẻ bằng Tốn. SOÁN TỪ Tốn, tiểu hanh, lị hữu du vãng, lị kiến đại nhân. Theo về đức quẻ, Tốn tính chất nhu thuận, nhất âm chịu phục tòng nhị dương, tượng là tiểu nhân phục tòng quân tử. Tiểu nhân mà biết như thế thời có lẽ hanh thông được, nhưng vì âm nhu dụng sự, không được hanh thông cho lớn, chỉ tiểu hanh mà thôi, vả cần phải có việc tiến hành nên kén chọn bậc đại nhân mà hết lòng tín ngưỡng vào người ấy.
Rằng: Lị hữu du vãng nghĩa là không phải ngồi an mà được tiểu hanh. Rằng: Lị kiến đại nhân nghĩa là không phải trung nhân, tiểu nhân mà làm nên hanh. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Trùng tốn dĩ thân mệnh, cương tốn hồ trung chính, nhi chí hành, nhu giai thuận hồ cương, thị dĩ tiểu hanh. Lị hữu du vãng, lị kiến đại nhân. Soán viết: Trùng tốn dĩ thân mệnh. Quẻ này trên dưới thảy Tốn, tượng là kẻ trên lấy đạo trung chính mà phát mệnh lệnh, kẻ dưới được mệnh lệnh mà thuận tòng kẻ trên, lấy vào tượng trùng Tốn mà cẩn thận kỹ càng, xuất phát mệnh lệnh (Trên một lần Tốn, dưới một lần Tốn nên gọi bằng Trùng Tốn; thân mệnh là bắt chước bằng cách Trùng Tốn, phát mệnh lệnh một lần, rồi lại một lần nữa, đinh ninh phản phúc gọi bằng thân, chữ thân cũng nghĩa như chữ trung).
Cương tốn hồ trung chính, nhi chí hành, nhu giai thuận hồ cương, thị dĩ tiểu hanh. Lị hữu du vãng, lị kiến đại nhân. Đây là lấy hào Nhị, hào Ngũ trong quẻ mà thích lời quẻ. Tốn vẫn là thuận, nhưng há phải một mực thuận đâu! Tất phải dương cương như hào Ngũ, hào Nhị, thuận bằng đạo trung chính thì chí mới phát triển được. Hai hào âm nhu như Sơ với Tứ tất thảy thuận tòng với đức dương cương (Cương chỉ vào Nhị, Ngũ, nhu chỉ vào Sơ, Tứ). Vì tài quẻ như thế nên được tiểu hanh mà lị hữu du vãng và lị kiến đại nhân.
Đại nhân chỉ vào Cửu Ngũ. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Tùy phong, Tốn. Quân tử, dĩ thân mệnh hành sự. Tốn có tượng là gió; trên Tốn, dưới Tốn là tượng là hai luồng gió tiếp tục theo nhau ( Tùy nghĩa là tiếp nhau). Quân tử xem tượng ấy thời tiếp tục xuất phát mệnh lệnh với thì hành chính sự. Tốn phong mệnh lệnh của trời, Thân mệnh là đức gió của quân tử. Thiên hạ phục tòng mệnh lệnh cũng in như vạn vật phục tòng gió trời. Vậy nên bắt chước Tốn mà thân mệnh, nhưng sau khi thân mệnh, tất phải hành sự, hễ đã phát mệnh lệnh gì, tất phải làm chính sự ấy, để cho tỏ mệnh lệnh là tin thật.
Như thế thời trên thuận đạo mà dưới thuận tòng, chính là cách Tốn của quân tử
Sáu Hào Của Quẻ Thuần Tốn
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:進退,利武人之貞。
Phan Bội Châu chú giải:
Tấn thối, lị võ nhân chi trinh. Nguyên quẻ Tốn gốc là quẻ Càn. Vì hào Sơ thay vào, nhất dương hóa làm nhất âm, mới thành được Tốn, nên hào Sơ là Tốn chi chủ, âm nhu ở dưới hết quẻ mà lại làm chủ cho Tốn là một hạng người tốn thái quá nên ý chí thành ra uy khiếp, tiến mà không dám tiến, thối mà không dám thối, hồ nghi do dự, không thể hữu vi được việc gì. Tuy nhiên, quá nhu vẫn không phải tốt, nhưng mà bổ trợ cho người quá cương thời lại lấy nhu mà chế cho cương, cũng có lẽ hay, nên Hào từ nói rằng: Lợi võ nhân chi trinh.
Nghĩa là, ti tốn như Sơ Lục này, chỉ duy dụng vào một hạng người võ nhân, thêm vào chí khí cương trinh. Thế thời chữa được bệnh quá nhu mà cũng bớt được bệnh quá cương. Thế mới có lị ích mà thôi. Tượng viết: Tấn thối, chí nghi dã, lị võ nhân chi trinh, chí trì dã. Sơ Lục mà tấn thối không quả quyết là vì ý chí đa nghi vậy. Nếu biết dùng bằng một cách cương quyết như võ nhân chi trinh thời chí khí mới tự lập nổi. Trước kia chí nghi mà bây giờ hóa ra chí trì (Chữ trì nghĩa là chữa được bệnh nghi hoặc mà ý chí chẳng loạn đó vậy)
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:巽在牀下,用史巫紛若,吉无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Tốn tại sàng hạ, dụng sử vu phân nhược, cát, vô cựu. Hào dương mà ở vào vị âm, lại ở vào thì Tốn nên cử động một cách quá ti, tượng như người ti tốn mà đến nỗi nép dưới giường. Nếu theo về thì khác, vẫn không lấy gì làm tốt, nhưng ở về thì Tốn thời ti tốn cũng hợp với thì nghĩa. Huống gì bản thân Nhị vẫn là dương cương đắc trung là một người có nhân cách. Tuy vì đối phó với hoàn cảnh mà quá chừng ti tốn, nhưng không phải tà siểm, chỉ là một hạng người trung tín chí thành, có thể đem lòng thành cảm động được người.
Tượng như nhà tế tự vì cầu thần quá thành thiết mà đụng đến quan sử thầy vu làm bằng một cách phân nhược ( Sử là chức quan coi về việc tế; vu là chức quan coi về việc nhương trừ tai họa; phân nghĩa là rối ren). Cầu thần mà phân phiền như thế, chính tỏ rõ được ý chí thành, nên thí dụ bằng Cửu Nhị chí thành cảm nhận mà không phải ra cách siểm ngụy, như thế thời được cát mà không tội lỗi gì. PHỤ CHÚ: Toàn văn hào này chỉ nói thí dụ, Tốn tại sàng hạ thí dụ bằng cách quá tốn; đó là thủ đoạn của Cửu Nhị ở thì Tốn.
Sách Lão Tử có câu: Cách người ở đời, rù rò vậy, ý như mùa đông đi trên giá, ngại ngùng vậy, như hình sợ láng giềng tứ bề. Lại có câu: Biết cách làm trống nhưng chỉ giữ cách làm mới, để làm cái hang sâu cho thiên hạ sụp vào. Tốn tại sàng hạ, chính là thủ đoạn của Lão Tử; sàng hạ nghĩa là dưới giường nằm người ta. Câu: Dụng sử vu phân nhược là thí dụ bằng chí thành cầu người. Đó là hình dung tinh thần của Cửu Nhị. Thầy Hàn Xương Lê bị đày ở Triều Châu, đi đến núi Hành Sơn, mây tuyết lấp cửa núi, không thấy đường đi, thầy thành tâm mật đảo, bỗng chốc mây tan, tuyết vữa.
Triều Châu thường có tai vạ cá sấu, nhân vật bị hại rất nhiều, dân Triều Châu lúc ấy còn quá dã man, nó bảo sáu là thần, không dám động đến, thầy sức dân phu sắm cung tên, sẽ bắn nó. Khi toan đánh cá sấu, trước làm bài hịch văn gieo xuống sông, hẹn cho bầy cá sấu, nếu phải là thần thời trong ba ngày phải đi ra bể hết, nếu không thế thời quan thái thú phải giết sạch. Sau hai ngày, thình lình giữa các mặt sông, gió sấm dữ dội, bao nhiêu cá sấu theo gió triều lui ra bể hết.
Từ ấy, dân Triều Châu mất hẳn họa ngạc ngư. Bấy giờ Đường sử có chép bài văn Khu Ngạc Ngư của thầy. Dụng sử vu phân nhược, cát in như chuyện ấy. Chúng ta học Dịch chớ nhận lầm chính văn hào Nhị là sự thiệt. Tượng viết: Phân nhược chi cát, đắc trung dã. Cửu Nhị chỉ lấy thành ý mà cảm động được thần minh, tượng như dụng sử vu bằng phân nhược mà kết quả được cát là vì Nhị có đức đắc trung, tuy tI tốn mà không phải quá độ vậy
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:頻巽,吝。
Phan Bội Châu chú giải:
Tần Tốn, lẫn. Ở về thì Tốn nhưng Tốn cũng cốt cho đắc trung. Cửu Tam trùng cương bất trung mà địa vị lại ở trên hết Nội Quái, vẫn là hạng người không làm xong Tốn, khi đã đụng lấy thất bại thời lại tốn một cách quá phiền, tốn đi, tốn lại, tốn rày, tốn mai, tốn mà không phải tự trị không ngần nghĩ ra, đụng đâu cũng tốn, càng tốn càng khiến người sinh chán, thiệt đáng xấu thẹn vậy, nên Hào từ nói rằng: Tần Tốn lẫn. Sách Luận Ngữ có câu: Cung kính mà vừa gần với lẽ phải thời xa tránh được việc xấu thẹn.
Tần tốn như Cửu Tam là cung mà chẳng cận ở lễ, mắc phải sỉ nhục là đáng rồi. Tượng viết: Tần Tốn chi lẫn, chí cùng dã. Tài chất Cửu Tam vẫn không biết đạo Tốn, chí Tam vẫn là cương táo, nhưng vì thất bại luôn luôn mà cuối cùng phải làm bộ ti tốn luôn, trước kiêu ngạo mà sau ti tốn, đó là ý chí Tam đến lúc cùng rồi, nên mắc lấy nhục bằng tần Tốn
Hào 4 — Lục Tứ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六四:悔亡,田獲三品。
Phan Bội Châu chú giải:
Hối vong, điền hoạch tam phẩm. Lục Tứ tài chất âm nhu, dưới lại không ngườì ứng viện. Người ở trên dưới mình rặt là phường dương cương, đáng lẽ phải có việc hối, nhưng may vì Tứ vẫn âm nhu mà lạì đắc chính, ở thể trên mà hay tự ti nên được hối vong, vả lại trên yêu dưới kính, chẳng những hối vong mà thôi, vả lại những việc công thưởng cũng có phần đến mình, tượng như theo quân đội đi săn mà được chia công cho mình có ba thức. Điền là lệ đi săn của nhà nước, lệ đời xưa đi săn về được đồ gì chia ra làm ba thức, mỗi một thức là một phẩm, một thức làm đồ tế, một thức đãi tân khách, một thức giao cho nhà bếp; chia phần mà đủ cả ba thức là hạng có công khá lớn.
Hào từ như thế là khen cho Tứ được chính đạo của thì Tốn mà kết quả thành công nên nói thí dụ bằng điền hoạch tam phẩm. Tượng viết: Điền hoạch tam phẩm, hữu công dã. Lục Tứ vì tốn thuận mà đắc chính nên Tam, Ngũ, hai dương thảy bằng lòng kết quả thời hữu công mà phần thưởng chiếm được nhiều, nên nói rằng: Điền hoạch tam phẩm
Hào 5 — Cửu Ngũ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九五:貞吉悔亡,无不利。无初有終,先庚三日,後庚三日,吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Trinh cảt, hối vong, vô bất lị. Vô sơ hữu chung, tiên Canh tam nhật, hậu Canh tam nhật, cát. Hào Cửu ở vị Ngũ làm chủ cho thì Tốn, cơ quan xuất phát mệnh lệnh, chính giữa tay Ngũ mà ra làm một vị chủ xuất lệnh ở thì Tốn, há có lẽ chỉ nhu tốn mà làm nổi công việc nguyên thủ rư. Duy vì Ngũ cương kiện, trung chính, tuy ở thì Tốn mà không phải một mực Tốn, Tốn mà đắc chính, Tốn mà đắc trung, tất nhiên được trinh mà cát, tuy ở thì Tốn e không khỏi hối, nhưng kết quả thời hối vong mà vô bất lị.
Lúc đầu vì có hối là Sơ, vẫn không hay gì, nhưng cuối cùng hối đã vong rồi mà lại trinh cát. Thế là vô sơ mà hữu chung. Hào từ bốn câu như trên đây, thiệt là tốt nhất trong thì Tốn, nhưng sở dĩ được tốt, há phải dễ dàng đâu. Cứ lẽ, tất phải có quy mô cho hữu thỉ hữu chung, có kế hoạch cho đúng kinh đúng quyền mới mong được cát mà lợi, nên Hào từ lại mượn tên số thập can mà hình dung cho minh bạch, nguyên trong số thập can: Giáp, Ất, Bính là đoạn đầu; Tân, Nhâm, Quý là đoạn sau; Đinh, Mậu, Kỉ là đoạn chính giữa là thập can chi trung, đến chữ Canh là quá trung.
Hễ việc đã quá trung, tất phải thay đổi nên chữ Canh có nghĩa như chữ Canh là đổi, cũng học là biến canh. Xuất mệnh lệnh ở thì Tốn, lúc bắt đầu đã hữu hối, tất phải biến canh, nhưng trong lúc biến canh, tất phải ở trước khi chưa canh ba ngày mà đinh ninh cần nhắc cho kĩ càng. Lại ở sau khi đã canh ba ngày mà so đọ khảo nghiệm cho chu mật. Làm việc biến canh mà công phu chu đáo được như thế, vậy nên được cát. Hào từ sở dĩ mượn tên thập can mà thí dụ bằng tiên Canh tam nhật, hậu Canh tam nhật (Chữ Canh thông với chữ canh nghĩa là thay đổi).
Tiên Canh tam nhật, tức là ngày Đinh; Đinh, có nghĩa là đinh ninh. Trước khi biến Canh mà Đinh ninh là cẩn thận ở lúc đầu. Hậu Canh tam nhật là ngày Quý; Quý, có nghĩa là quỵ đạc. Sau lúc biến Canh mà quỵ đạc là đo lường kĩ lưỡng đến lúc sau. Nói tóm lại, Hào từ Cửu Ngũ cũng tượng như Quái từ quẻ Cổ. Tổng chi là bắt đầu làm việc Canh cách phải có kế hoạch thời cuối việc mới có thành công, khác nhau chỉ chữ Giáp với chữ Canh. Giáp là tính toan ở đầu việc, đề phòng trước sự cổ hoại; Canh là biến canh ở đoạn quá giữa việc, để gây nghiệp duy tân.
Tham khảo cả hai bên thời biết được tác dụng của Dịch lí, rất tinh tường và chu đáo. Tượng viết: Cửu Ngũ chi cát, vị chinh trung dã. Cửu Ngũ sở dĩ được cát là vì địa vị sở xử đúng vào vừa chính vừa trung nên ở vào thì Tốn, không gì lầm lỗi vậy
Hào 6 — Thượng Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上九:巽在牀下,喪其資斧,貞凶。
Phan Bội Châu chú giải:
Tốn tại sàng hạ, táng kì tư phủ, trinh, hung. Thượng Cửu ở cuối cùng quẻ Tốn là Tốn chi cực, tượng như ti tôn mà nấp ở dưới giường. Vì thế mà bản năng của mình là dương cương cũng đến nỗi mất ráo. Tư phủ là thí dụ bằng đức dương cương. Đã bỏ hết đức dương cương còn gì mong được tốt nữa. Nhưng nếu quá nhi năng cải, còn có lẽ hay. Thượng này lại không được như thế, cố giữ lấy thói xấu của mình, ti tốn càng quá thêm thời tai họa càng nhiều thêm, thiệt là trinh hung mà thôi vậy.
Chữ trinh ở đây chỉ học nghĩa trinh là bền giữ, khác với chữ trinh ở mọí nơi, xem ở Tượng Truyện thời hiểu. Tượng viết: Tốn tại sàng hạ, thượng cùng dã; táng kì tư phủ, chính hồ hung dã. Tốn tại sàng hạ, Cửu Nhị cũng có thí dụ như thế, nhưng cớ sao Cửu Nhị thời cát mà Thượng Cửu thời hung? Bởi vì Cửu Nhị ở hạ thể mà đắc trung, tuy quá ư ti tôn mặc lòng nhưng vừa đúng với nghĩa lí nên tốn tại sàng hạ mà vẫn được cát. Còn như Thượng Cửu thời địa vị ở trên hết Tốn là Tốn đã cùng cực rồi.
Đã cùng cực rồi mà không biết biến, còn làm một cách quá ti nên tốn tại sàng hạ mà mắc lấy xấu. Tượng Truyện sợ rằng người ta nhận lầm chữ trinh ở Hào từ nên lại thích cho rõ rằng: Thượng này có tài dương cương đủ làm tư phủ cho mình mà vì nết ti siểm nên nỗi mất trớt tư phủ. Như thế, còn bảo được chính nữa rư, chỉ là một cách xấu đó vậy. Tư phủ là đồ dùng để hộ thân, nghĩa đã thích ở trên quẻ Lữ. Chính hồ là lời nghi để cho thấy được chữ trinh trên Hào từ, chẳng phải chữ trinh là chính.
Hung dã là lời đoán quyết nghĩa là chẳng phải chính, chỉ là hung mà thôi
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thuần Tốn là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Thuần Tốn Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 57 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thuần Tốn Là Gì?
Thượng quái là Tốn, tượng gió; hạ quái là Tốn, tượng gió. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 巽: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thuần Tốn. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 56: Hỏa Sơn Lữ · Quẻ 58: Thuần Đoài


Hotline