Quẻ Thuần Đoài: Niềm Vui Đi Cùng Điều Chính, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Thuần Đoài số 58: Đoài trên, Đoài dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Thuần Đoài (兌) là quẻ số 58 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Đoài (đầm), hạ quái là Đoài (đầm). Đoài gắn với vui đẹp. Lời quẻ nêu lợi ở sự bền chính; lời tượng hai đầm liền nhau được liên hệ đến bạn bè cùng giảng tập, thay vì vui mà không có điều làm nền.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Thuần Đoài Là Gì?

Số thứ tự 58/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Thuần Đoài — 兌
Thượng quái Đoài — Đầm
Hạ quái Đoài — Đầm
Hào dương 4
Hào âm 2

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Đoài, ba hào sau tạo thượng quái Đoài. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thuần Đoài

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

兌:亨。利貞。

Nguyên Văn Thoán Truyện

兌,說也。剛中而柔外,說以利貞,是以順乎天,而應乎人。說以先民,民忘其勞;說以犯難,民忘其死;說之大,民勸矣哉!

Nguyên Văn Đại Tượng

麗澤,兌;君子以朋友講習。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Đoái trên; Đoái dưới Quẻ này là quẻ Bát Thuần Đoái. Đoái hạ cũng là Nội Đoái, Đoái thượng cũng là Ngoại Đoái. Trên dưới trong ngoài thảy Đoái, nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Đoái. TỰ QUÁI Tự quái: Tốn giả nhập dã, nhập nhi hậu duyệt chi, cố thụ chi dĩ Đoái, Đoái giả duyệt dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tốn tiếp lấy quẻ Đoái là vì cớ sao? Tên ấy là quẻ Tốn, Tốn nghĩa là vào, nhân tình vật lí, hễ có vào được nhau, vậy sau mới ưa nhau mà hòa duyệt được, vậy nên sau quẻ Tốn tiếp lấy quẻ Đoái.

Đoái nghĩa là hòa duyệt. Có tương nhập thời mới tương duyệt. Ở trong xã hội, vô luận hạng người nào, tất trước phải dần dà ngầm thấm, có ăn vào với nhau thời mới sinh hòa duyệt mà được hiệu quả đồng tâm. Vậy nên, muốn duyệt phục quần chúng, tất trước phải thâm nhập quần chúng. Đoái duyệt ở sau Tốn nhập, ý nghĩa rất hay. SOÁN TỪ Đoái, hanh, lị trinh. Đoái nghĩa là duyệt. Đoái tượng là nước chằm, lại tượng là thiếu nữ, nước chằm thường duyệt được cây cỏ sinh vật, thiếu nữ thường làm cho món trai phải duyệt.

Vậy nên, Đoái có nghĩa bằng duyệt. Hễ nhân tinh đã duyệt nhau tất vui lòng đồng lao hợp tác mà làm việc được việc hanh thông. Tuy nhiên, cách làm ra duyệt, thường có hai lối: Một là, duyệt bằng cách quân tử, gốc ở lòng cương chính mà tỏ rõ ra nết nhu hòa, như thế thời duyệt mà tốt. Hai là, duyệt bằng cách tiểu nhân, trong lòng thời giả dối mà ngoài mặt thời nịnh hót, duyệt đã tà như thế thời té ra duyệt mà mắc họa nên Quái từ răn rằng: Duyệt vẫn có lẽ hanh mà cần phải duyệt cho trinh chính.

Hoặc trai gái, hoặc bạn bầy, hoặc thầy tớ, duyệt nhau mà không phải gốc ở trinh chính, hoặc vì thế lợi mà cấu hợp, hoặc vì ái tình mà tư giao; tuy có duyệt nhau mặc lòng, nhưng hình thức tuy hợp mà tinh thần vẫn li, làm ơn nên oán làm bạn nên thù, có gì là hanh, lị nữa đâu. PHỤ CHÚ: Quái từ thuộc về ba quẻ gái: Tốn nói rằng: Tiểu hanh; Li nói rằng: Lị trinh; Đoái đây cũng nói rằng: Hanh, lị trinh. Ba quẻ ấy duy quẻ Tốn chỉ tiểu hanh, còn hai quẻ Li, Đoái, thảy bảo phải lị trinh mới hanh.

Còn như Quái từ ở ba quẻ trai: Chấn, Khảm, Cấn, thảy không nói chữ trinh. Bởi vì tính chất âm nhu, thì thường hay xiêu vào đường bất chính nên thánh nhân phải răn cho chữ trinh. Nữ tử mà đã bất trinh thời không còn gì là hanh, lị. Đó là thâm ý của thánh nhân. Vậy nên, chữ trinh chỉ thấy ở Quái từ trong hai quẻ nữ. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Đoái duyệt dã. Cương trung nhi nhu ngoại, duyệt; dĩ lị trinh, thị dĩ thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân, duyệt dĩ tiễn dân, dân vong kì lao; duyệt dĩ phạm nạn, dân vong kì tử; duyệt chi đại, dân khuyến hĩ tai.

Soán viết: Đoái, duyệt dã. Đây là thích nghĩa tên quẻ. Cương trung nhi nhu ngoại, duyệt; dĩ lị trinh, thị dĩ thuận hồ thiên, nhi ứng hồ nhân, duyệt dĩ tiễn dân, dân vong kì lao; duyệt dĩ phạm nạn, dân vong kì tử; duyệt chi đại, dân khuyến hĩ tai. Theo về thể quẻ, hai hào dương ở phía trong, một hào âm ở phía ngoài, tượng là trong lòng thành thực mà ngoài mặt nhu hòa, duyệt bằng một cách lị ở chính. Duyệt có lẽ tốt mà lại hợp với đạo chính. Vì thế nên trên thuận với mệnh trời mà dưới ứng với tình người.

Duyệt mà chính được như thế thời thiên lí đã thuận mà nhân tâm cũng theo. Lấy cách duyệt ấy mà dẫn dắt trước cho dân, tất nhiên bảo gì dân cũng vui làm mà dân quên sự khó nhọc, lấy cách duyệt ấy mà đem dân xông vào chốn hiểm nạn, dân cũng vui lòng xông vào mà quên sự chết. Ói! Dân tình ai vui gì sự khó nhọc mà vì sao dân vong kì lao? Dân tình ai chẳng sợ sự chết mà vì sao dân vong kì tử? Chỉ vì đức cương trung, nết nhu ngoại mà lại duyệt bằng đạo trinh chính, xui nên trời thuận người chiều.

Dân gánh lấy nhọc mà không biết sự nhọc, dân xông vào chốn chết mà không sợ chết; lớn thay đạo Duyệt như thế. Thiệt làm cho dân phải tự khuyến khích đó rồi. PHỤ CHÚ: Soán Truyện thích chữ Duyệt, rất hay là hai chữ vong; việc khỏe mà vui làm, đường sống mà vui đi, chưa phải là hiệu quả của Duyệt. Chỉ duy việc nhọc mà dân vui làm, đường chết mà dân vui đi, có tinh thần hai chữ vong, mới hình dung được hiệu quả Duyệt, nhưng há phải cưỡng bức dân mà được thế rư? Vì tâm lí của thánh nhân, cốt làm việc lị ích cho dân mà bất đắc dĩ phải nhọc đến dân, tạm thì tuy nhọc một mà an khỏe chắc được lâu dài, nên dân không lấy sự nhọc làm nhọc.

Vì muốn gây đường hạnh phúc cho dân mà bất đắc dĩ phải lừa dân xông vào chốn hiểm nạn; nạn ở trước mặt mà hạnh phúc theo ở sau lưng, nên dân quên hết cả việc chết. Duyệt đạo đến thế, lị biết đường nào!! ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Lệ trạch, Đoái. Quân tử dĩ bằng hữu giảng tập. Quẻ này trên Đoái, dưới Đoái, tương hai thể Đoái liên tiếp với nhau, in như hai cái chằm nước nương tựa với nhau. Nước chằm ở bên này dầm thấm qua bên kia mà chằm bên kia lại dầm thấm cho bên này, đắp đổi làm ích lợi cho nhau, tượng là quẻ Đoái.

Quân tử xem vào tượng ấy mà nghĩ rằng: Việc trong thiên hạ làm lợi ích cho nhau mà lòng hai bên thảy duyệt lạc, không việc gì bằng bầu bạn giảng tập với nhau, nên quân tử chăm làm việc bằng hữu giảng tập. Bằng hữu nghĩa là bầy bạn; giảng nghĩa là bàn bạc nghiên cứu; tập nghĩa là thí nghiệm thực hành. Chữ giảng thuộc về phần học vấn, khiến cho thêm rộng về phần tri; chữ tập thuộc về phần tác dụng, khiến cho thiết thực về phần hành; có giảng với nhau thời chủ nghĩa gì tốt, lí luận gì cao, mục đích gì hay, phương châm gì đúng, mới rành rõi phân minh là bổ thêm cho óc nghĩ.

Tuy nhiên, giảng suông mà không tập, thời nói không mà thành ra vô vị mà lí luận ở nơi sở giảng, không lấy gì chứng nghiệm được phải hay chăng, không lấy gì tăng tấn được xa và rộng. Thế thời giảng suông mà có ích gì. Vậy nên, đã giảng những điều gì, tất phải tập làm những điều ấy, nhất thiết lí luận, tất cầu kiến ở thực hành. Nếu cái gì không thực hành được thời những cái trước đã giảng, tất phải tinh ích cầu tinh. Thế mới là: Lị ích của bằng hữu, cũng in như hai chằm dính dựa nhau đó vậy.

Người ta thường gọi bằng hữu bằng lệ trạch là nghĩa như thế

Sáu Hào Của Quẻ Thuần Đoài

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初九:和兌,吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Hòa đoái, cát. Sơ Cửu có đức dương cương mà ở vào địa vị dưới hết thể Đoái, ấy là có đức tổt mà lại hay khiêm ty, ở trên lại không tư tình dây dướng với ai. Đổi phó với người chung quanh mình, chỉ lấy một cách ôn hòa làm duyệt mà không khiêm tư với ai. Duyệt được như thế, chắc tốt lành. Tượng viết: Hòa đoái chi cát, hạnh vị nghi dã. Hòa đoái mà được cát là vì Sơ này bắt đầu vào thì Đoái, chỉ thấy cách duyệt bằng chính, tính nết của Sơ không thấy điều gì đáng nghi vậy

Hào 2 — Cửu Nhị

Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九二:孚兌,吉,悔亡。

Phan Bội Châu chú giải:

Phu đoái, cát, hối vong. Cửu Nhi gần với Lục Tam là âm nhu, chính là một tay tiểu nhân. Nếu Nhị duyệt với Tam thời e hữu hối, nhưng Nhị há phải là người dị duyệt đâu, dương cương đắc trung trong lòng chất chứa đức thành thực, bản thân giữ lấy cách tự trọng, tuy hòa với chúng mà sen chẳng nhuốm bùn. Duyệt mà tỏ rõ ra cách cương trung như thế là Phu đoái. Vậy nên được cát mà hối vong. Chữ phu nghĩa là thành thực, có đức cương ở bề trong tức là trung trực, nên nói rằng: Phu.

Tượng viết: Phu đoái chi cát, tín chí dã. Phu đoái mà được cát là vì hào Nhị cương thực cư trung, tâm chí sẵn có đức chí thành, tà tâm chẳng sao du dịch được

Hào 3 — Lục Tam

Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六三:來兌,凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Lai đoái, hung. Lục Tam âm nhu mà lại bất trung, bất chính là một hạng người duyệt mà không theo đạo chính, vì hoàn cảnh của Tam chen vào giữa bốn dương, gái thấy nhiều trai mà trầm trồ, khinh thân lại cầu duyệt với người, kết quả không ai ưa mình, thân đã hèn mà giá cũng rẻ. Lai đoái như thế, chắc phải hung. PHỤ CHÚ: Lục Tam là một hạng tiểu nhân dị duyệt, trên thời muốn vãng duyệt với Tứ, Ngũ, dưái thời muốn lai duyệt với Nhị, Sơ, nhưng Hào từ chỉ nói chữ lai. Lai nghĩa là quay lại xuống dưới.

Bởi vì Tứ, Ngũ quá cao, Tam đương còn né, vừa mới cầu với Sơ, Nhị, mà thân giá đã hỏng rồi nên không dám vãng cầu với Tứ, Ngũ; lại vì Sơ cương mà chính, Nhị cương mà trung nên không thèm duyệt với Tam. Huống gì Tứ dương cương tiếp cận với Ngũ, Ngũ là người trung chính, Tam còn dám trọc trèm nữa đâu. Hễ người ta tự mình không ra gì mà xu quyền phụ thế cầu làm thân với người, thiệt đáng trông gương hào Lục Tam này vậy. Tượng viết: Lai đoái chi hung, vị bất đáng dã. Lai đoái mà mắc hung là vì địa vị Lục Tam bất trung, bất chính; lấy tính cách âm nhu mà cầu duyệt vơ nên nỗi đến hung

Hào 4 — Cửu Tứ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九四:商兌,未寧,介疾有喜。

Phan Bội Châu chú giải:

thương đoái, vị ninh, giới tật, hữu hỉ. Cửu Tứ có chất dương cương, nhưng ở vào vị Tứ lại là âm vị, chẳng phải là một người tuyệt đối quân tử nên Hào từ đặt ra lời lưỡng dạng. Vả lại hoàn cảnh Cửu Tứ, trên thừa tiếp một người trung chính là Cửu Ngũ, dưới gần gũi một đứa nhu tà là Lục Tam. Duyệt với Cửu Ngũ hay sao? Hay duyệt với Lục Tam hay sao? Bồi hồi giữa khoảng hai bên nên đương lúc ban đầu Tứ vẫn thương lượng nên duyệt về phía nào mà chưa hay giải quyết ( Thương nghĩa là đong lường, cân nhắc).

Thiệt đáng may thay! Bản chất Tứ vẫn dương cương mà Ngũ lại đồng đức mới quyết nhiên theo chính bỏ tà. Tam đã không dám trây dính đến mình thời Tứ với Ngũ lại càng tương đắc, quân thần tế hội, nước thịnh dân yên, có việc phúc khánh về sau, thiệt đáng mừng cho Tứ đó vậy. ( Giới nghĩa là cương quyết; tật nghĩa là ghét bỏ; giới tật nghĩa là quyết nhiên bỏ Lục Tam). Tượng viết: Cửu Tứ chi hỉ, hữu khánh dã. Cửu Tứ mà được hữu hỉ, há phải mừng riêng cho Cửu Tứ đâu, thiệt là phúc khánh chung cho thiên hạ quốc gia đó vậy

Hào 5 — Cửu Ngũ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九五:孚于剝,有厲。

Phan Bội Châu chú giải:

Phu vu bác, hữu lệ. Cửu Ngũ dương cương, trung chính, vẫn là một bậc quân tử nan duyệt, nhưng vì ở vào thì Đoái mà lại mật cận với Thượng Lục. Thượng Lục là người xảo ngôn lịnh sắc, khéo mỵ duyệt mà hãm hại người nên Hào từ phải răn cho Ngũ rằng: Thượng Lục kia là một người âm nhu, tiêu bác được dương đó. Nếu Ngũ mà thân tín với Thượng, tất nhiên bị nguy. Bác là chỉ vào Thượng Lục; ở trên quẻ Bác đã có câu: Nhu bác cương. Nay Thượng Lục có ý toan bác hào Ngũ. Nếu Ngũ mà tin nó thời bị nguy đó.

Tượng viết: Phu vu bác, vị chính đang dã. Cửu Ngũ ở gần Thượng Lục có mùi hiềm nghi phu vu bác nên Hào từ phải có lời răn. Bởi vì địa vị của Ngũ sở xử, chính là nên răn vậy. PHỤ CHÚ: Hào từ mỗi hào tất thảy có chữ Đoái, duy hào Ngũ không chữ Đoái mà lại có chữ Bác, bởi vì: hào Ngũ là ở vào địa vị chí tôn nên lấy duyệt âm làm đáng sợ, Hào từ không nói Duyệt mà nói Bác là cho quân tử mà phòng bị tiểu nhân. Các hào nếu duyệt lầm thời tai hại chỉ nhất thân, đến như Ngũ mà duyệt lầm thời tai hại đến nhất quốc, nên Hào từ có lời răn mà Tượng Truyện cũng có nói rằng: Vị chính đáng dã

Hào 6 — Thượng Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上六:引兌。

Phan Bội Châu chú giải:

Dẫn đoái. Thượng Lục làm chủ cho Đoái. Bởi vì quẻ Đoái nguyên là Càn, một hào âm thay vào mà hóa làm Thượng Lục mới thành được Đoái nên hào Thượng là duyệt chủ. Thượng đã là duyệt chi chủ, lại ở trên hết quẻ là duyệt chi cực, duyệt đã đến lúc cực điểm rồi còn dắt kéo dài ra, thế là dẫn đoái. Thái độ của Thượng như thế, đáng lẽ có hung, hối lẫn, nhưng Hào từ chỉ hai chữ dẫn đoái mà thôi. Bởi vì Cửu Ngũ đã biết Thượng Lục là Bác mà không tin. Tứ thời thân với Ngũ, Nhị thời ứng với Ngũ.

Thượng dầu muốn dẫn Đoái, nhưng cũng chẳng dẫn được ai. Thế cũng chẳng là hại gì đến thế đạo nhân tâm nên không cần nói đến: Hung, hối, lẫn. Tượng viết: Thượng Lục dẫn đoái, vị quang dã. Duyệt đã đến cực rồi, còn kéo dài ra, chỉ là tỏ rõ cho tâm sự của tiểu nhân mà thôi, chẳng lấy gì làm quang minh vậy. PHỤ CHÚ: Đoái vẫn nghĩa là duyệt, nhưng Quái từ với Hào từ thời thủ nghĩa khác nhau. Quái từ là nói đạo duyệt của thánh nhân nên có chữ hanh, lị, trinh là hoàn toàn thuộc về duyệt tốt.

Duy lời sáu hào thời theo địa vị của mỗi hào, hào có chính, bất chính thời duyệt có công, tư. Toàn quẻ có hai hào âm, bốn hào dương, hai âm làm chủ cho duyệt là bọn tiểu nhân phỉnh hót người, cố sức cầu duyệt với tứ dương, nhưng cầu duyệt mà làm bằng cách tiểu nhân nên Lục Tam lai đoái mà hung, Thượng Lục dẫn đoái mà vị quang. Lai với dẫn là đồng ác tương tế. May thay! Bốn dương hay đồng đức tương tế, không ai sụp vào bầy tiểu nhân. Vậy nên, Sơ Cửu, Cửu Nhị thời được cát, Cửu Tứ thời hữu hỉ, Cửu Ngũ chỉ răn bằng hữu lệ.

Thế mới biết: Quân tử với tiểu nhân, thiệt là băng thán bất tương nhập. Dầu tiểu nhân khéo duyệt đến thế nào, nhưng quân tử chỉ theo chính đạo, không bao giờ duyệt với tiểu nhân. Đức Khổng Tử có nói rằng: Quân tử khó duyệt lắm, duyệt mà không nhàm với đạo duyệt thời chẳng duyệt vậy. Tiểu nhân thời dễ duyệt, duyệt mà chẳng nhằm với đạo duyệt, cũng cứ duyệt càn. Xem như lời ấy, duyệt đúng với đạo mới duyệt, tức là quân tử, duyệt trái với đạo mà duyệt, tức là tiểu nhân. Xem vào nghĩa sáu hào quẻ Đoái lại càng rõ lắm, nhưng ta muốn xét rõ tinh trạng tiểu nhân, chỉ nên nhận kỹ hai chữ dẫn đoái với lai đoái.

Cách tiểu nhân làm duyệt người có hai lối: Một là cách gấp mình không cầu nó mà nó tự lai với mình, đó là dùng cách gấp là lai đoái; hai là dùng cách gấp như trên mà duyệt được rồi thời lại có năm bảy anh dắt dây kéo nhợ, dùng bằng cách lâu dài, ấy là dẫn đoái. Bạn quân tử nếu không cẩn thận, lỡ một chốc sẩy chân thời sụp vào lưới duyệt của nó mà tai hại không biết chừng nào! Vậy nên, Hào từ phải lo cho phần quân tử, hào Nhị dùng chữ hối, hào Tứ dùng chữ tật, hào Ngũ dùng chữ lệ mà ý tứ rất thâm thiết.

Lại ở chữ phu vu bác, ý như nói rằng: Nó muốn duyệt với mình là nó cốt đẽo xẻ mình đó. Đọc Dịch mà chịu nghĩ như thế, mới khỏi phụ khổ tâm của thánh nhân

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thuần Đoài là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Thuần Đoài Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 58 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thuần Đoài Là Gì?

Thượng quái là Đoài, tượng đầm; hạ quái là Đoài, tượng đầm. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 兌: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thuần Đoài. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 57: Thuần Tốn · Quẻ 59: Phong Thủy Hoán

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline