Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế (未濟) là quẻ số 64 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Ly (lửa), hạ quái là Khảm (nước). Vị Tế nói về chưa hoàn tất. Hình tượng cáo nhỏ gần qua sông nhưng ướt đuôi nhắc đến khó khăn của chặng cuối; quẻ kết thúc hệ 64 quẻ mà vẫn để mở sự tiếp diễn.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế Là Gì?
| Số thứ tự | 64/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Hỏa Thủy Vị Tế — 未濟 |
| Thượng quái | Ly — Lửa |
| Hạ quái | Khảm — Nước |
| Hào dương | 3 |
| Hào âm | 3 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Khảm, ba hào sau tạo thượng quái Ly. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
未濟:亨。小狐汔濟,濡其尾,无攸利。
Nguyên Văn Thoán Truyện
未濟,亨;柔得中也。小狐汔濟,未出中也。濡其尾,无攸利;不續終也。雖不當位,剛柔應也。
Nguyên Văn Đại Tượng
火在水上,未濟;君子以慎辨物居方。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Ly trên; Khảm dưới Quẻ này là quẻ Hỏa Thủy Vị Tế. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Li thượng cũng Ngoại Li. Li hỏa, Khảm thủy, nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Thủy Vị Tế. TỰ QUÁI Tự quái: Vật bất khả cùng dã, cố thụ chi dĩ Vị Tế, chung yên. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Kí Tế, tiếp lấy quẻ Vị Tế là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Kí Tế, tức là cùng rồi, vật lí sinh sinh bất cùng, không lẽ nào đến Kí Tế mà hết được. Vậy nên ở cuối cùng Kinh đặt quẻ Vị Tế vào.
Quẻ Vị Tế là quẻ kết thúc toàn bộ Dịch, chứ không phải chỉ vì tiếp quẻ Kí Tế mà thôi. Dịch lí sở dĩ tác dụng vì hay biến dịch mà vô cùng. Vậy nên đặt Vị Tế ở sau hết Kinh, Vị Tế thời là chưa cùng, đã chưa cùng thời còn sinh sinh mãi. Nguyên lai trong vũ trụ, nhất thiết giống gì đã hữu hình, tất nhiên hữu hoại, lớn đến toàn thế giới, như nhật luân, địa cầu, tinh cầu, v.v. cho đến tất thảy các giống trong vũ trụ, hễ động lực có một ngày đình chỉ, nhiệt lực có một ngày tiêu diệt, đại vận hội có một ngày tối chung, ngày tối chung đó tức là ngày Kí Tế, Kí Tế thời cùng, cùng thời biến hoại.
Phật gia bảo rằng kiếp tận. Thiên Chúa Gíao bảo rằng mạt nhật, nên trong Dịch cũng phải có Kí Tế. Tuy nhiên, cái cùng mà có biến hoại, đó chỉ là thuộc về phần hình, ở Phật gia gọi bằng sắc, ở Dịch gọi bằng khí, còn thuộc về phần vô hình mà chúng ta không thể thấy, Phật gia thời gọi bằng không, ở Dịch thời gọi bằng đạo. Cái đó không bao giờ cùng mà cũng không bao giờ hoại, nên Phật gia có câu: Nhất thiết không, đáo để bất hoại. mà Nho gia cũng có câu: Vũ trụ khả biến, đạo bất khả biến.
Vì cái bất biến bất hoại đó, cứ tồn tại hoài mà cái khả biến khả hoại kia, cũng lần này chết thời lần khác đẻ ra. Nhân vì thế mà cuối cùng Dịch phải đặt quẻ Vị Tế. Vị Tế nghĩa là chưa cùng được. Dịch đến quẻ sáu mươi tư, tuy nói rằng Dịch hết rồi, nhưng cái hết đó, chẳng qua là Dịch thuộc về phần hữu hình, tức là Quái hào văn tự, chứ như thuộc về phần vô hình, tức là lí giao dịch, biến dịch, bất dịch thời tuyệt đối không bao giờ cùng. Vậy nên, ở cuối cùng Kinh, phải đặt quẻ Vị Tế.
SOÁN TỪ Vị Tế, hanh, tiểu hồ ngặt tế, nhu kì vĩ, vô du lị. Chữ Tế nguyên có hai nghĩa. Một nghĩa Tế là cùng, vì toàn bộ Dịch mà đặt Vị Tế ở sau hết thời lấy bằng nghĩa ấy, Vị Tế nghĩa là chưa cùng. Lại một nghĩa nữa, Tế là nên, hay Tế là qua, chỉ theo bản thân quẻ mà gọi bằng Vị Tế thời lại lấy nghĩa ấy. Vị Tế nghĩa là việc chưa nên, bởi vì thể quẻ: Li hỏa ở trên, hỏa tính viêm thượng [không hạ giao với Khảm; Khảm là tính nhuận hạ] mà không thượng giao với Li.
Thủy, hỏa bất giao mà té ra lửa không sôi được nước, nước không dẹp được lửa nên không thành được công dụng của thủy, hỏa, vậy nên, đặt tên quẻ bằng Vị Tế. Ở vào thì Vị Tế, vẫn là việc chưa nên, nhưng há phải không nên đâu, chỉ là chưa nên mà thôi, chờ thì đến thời kết quả cũng nên. Tỉ như, người đứng bên bờ sông này vẫn chưa qua bên kia sông, nhưng chẳng bao lâu có đò ngang tới, tất nhiên cũng qua nên nói rằng: Vị Tế, hanh. Bởi vì Vị Tế không phải là Bất Tế nên trong thì ấy vẫn có lẽ hanh, nhưng tất phải có đức nhu trung, biết xem thì thức thế như Lục Ngũ, thời sau mới hanh được.
Nếu chẳng hay xem thì thận xử mà nóng gấp láu táu như con tiểu hồ, vừa sắp sửa qua mà đã lấm hết đuôi. Thế là không qua nổi, như thế là bất năng tế. Ngật tế là sắp sửa qua. Nhu kì vĩ ý là không qua được. Không qua được tức là Bất Tế, còn có lị gì. PHỤ CHÚ: Quái từ ở Kí Tế nói rằng hanh, tiểu là nói bằng việc dĩ vãng. Quái từ Vị Tế nói hanh là dự đoán về phúc tương lai. Việc dĩ vãng thời hanh hữu hạn, phúc tương lai thời hanh vô cùng.
Hanh ở Kí Tế, ví như con đã trưồng thành thời mạnh hay yếu, trí hay ngu là việc đã ấn định. Hanh ở Vị Tế, ví như con còn thơ bé thời tương lai mạnh hung, hay khôn lớn còn chưa biết chừng. Dịch sở dĩ quy kết bằng Vị Tế, chính như Xuân mà chưa đến lúc hoa nở, đêm mà chưa tới lúc trăng tròn, chắc hi vọng về tiền đồ hãy còn nhiều lắm, ai dám bảo rằng Vị Tế mà hẳn là Bất Tế đâu. Vậy nên, Quái từ nói Vị Tế, hanh lại còn hơn Kí Tế, hanh, tiểu, kia vậy.
SOÁN TRUYỆN Soán viết: Vị Tế, hanh, nhu đắc trung dã. Tiểu hồ ngật tế, vị xuất trung dã, nhu kì vĩ, vô du lị, bất tục chung dã. Tuy bất đáng vị, cương, nhu ứng dã. Soán viết: Vị Tế hanh, nhu đắc trung dã. Xem vào đức quẻ có như Lục Ngũ âm nhu mà ở được trung vì là có đức nhu trung, lại ứng với Cửu Nhị có tài cương trung, như thế mà ở vào thì Vị Tế, chắc tương lai cũng hanh. PHỤ CHÚ: Hai quẻ Kí Tế, Vị Tế, thảy nhân có Khảm thủy mà đặt tên, nhưng Soán Truyện ở hai quẻ thời lại chuyên trọng về nhu đắc trung là chỉ vào hào chính giữa hai quẻ Li.
Ý thánh nhân muốn cho ta biết, Khảm với Li không thể nào thiếu được. Tiểu hồ ngật tế, vị xuất trung dã. Quái từ thủ tượng bằng tiểu hồ, nhưng chỉ nói ngật tế mà thôi. Thế là sắp sửa qua mà chưa qua vì chưa ra khỏi Khảm hiểm vậy. Trung nghĩa là ở giữa Khảm hiểm. Nhu kì vĩ, vô nhu lị, bất tục chung dã. Đạo lí trong thiên hạ, hễ tiến quá hăng thời lui càng chóng. Thỉ tuy hăng mạnh mà đến lúc chung không kế tục được. Thế thời không làm việc gì mà lợi. Bất tục nghĩa là chẳng tiếp tục.
Tuy bất đáng vị, cương, nhu ứng dã. Tuy sáu hào trong quẻ, thảy nhu cư dương vị, cương cư âm vị, bất đáng vị mặc dầu nhưng thảy là cương ứng với nhu, nhu ứng với cương, có thể đồng lao hợp tác với nhau mà làm công việc Tế, hiện tại tuy Vị Tế mà tương lai chắc cũng được hanh là vì cương, nhu hiệp ứng với nhau đó vậy. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Hỏa tại thủy thượng, Vị Tế. Quân tử dĩ thận biện vật cư phương. Hỏa tại thủy thượng là hai giống thảy ở trái chốn, lửa lên đốt ở dưới nước mà bây giờ lửa ở trên nước, nước đáng đặt ở trên lửa mà bây giờ nước ở dưới lửa.
Thế là thủy, hỏa bất giao, sở dĩ thành ra Vị Tế. Quân tử xem tượng ấy mà biết lẽ trong thiên hạ, hễ một vật nào tất có chốn ở của vật ấy. Tỉ như, sĩ nên ở chốn học đường; thương nên ở chốn thị thành; nông nên ở chốn điền dã; công nên ở chốn công trường; những loài ấy quân tử phải xem xét kỹ càng để biện cho ra vật nào vào phương ấy, vật thảy ở cho đúng phương thời vật nào cũng có công dụng. Đó là cách quân tử xử trí ở thì Vị Tế vậy. Biện vật nghĩa là phân biệt cho ra các loài vật.
Cư phương nghĩa là bày đặt cho nó ở đúng phương. Tỉ như: Con nhà cày mà đem vào ở chốn thành phố, người đi học mà đem vào ở chốn ăn chơi, người công nghệ mà đem vào ở chốn quan phủ. Như những loài ấy là vật ở trái phương, thành ra sở nhu trái mất sở năng, sở cư trái mất sở lập, còn làm sao Vị Tế mà được rư. PHỤ CHÚ: Kí Tế là việc đã nên rồi, cần nhất là lo cho vô hoạn, nên Tượng Truyện bảo cho “Tư hoạn dự phòng”. Vị Tế là việc chưa làm nên, cần nhất là khiến cho hữu dụng nên Tượng Truyện bảo cho “Thận biện vật cư phương”.
Biện vật cư phương là quy mô để làm cho đến Kí Tế. Tư hoạn dự phòng là kế hoạch làm cho khỏi quay lại Vị Tế, cũng in như Khảm, Ly hỗ tương vi dụng đó vậy
Sáu Hào Của Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:濡其尾,吝。
Phan Bội Châu chú giải:
Nhu kì vĩ, lẫn. Sơ Lục bản chất âm nhu, vẫn không đủ tài tế hiểm, bắt đầu ở vào thì Vị Tế mà lại bước chân vào Khảm hiểm; Khảm thủy ở đường trước, muốn qua mà không thể qua được xong, tượng là nhu kì vĩ mà đến nỗi lẫn. Tượng viết: Nhu kì vĩ, diệc bất tri cực dã. Sơ Lục không tự tri mình là nhu nhược mà toan muốn qua sông, đến nỗi xuống nước mà mắc lấy nhu vĩ, cũng vì không biết tính cho đến cuối cùng vậy. Tri cực nghĩa là biết đến cuối cùng, cũng như chữ tri chung.
Bất tri cực, như người ta thường nói, biết đầu mà không biết đuôi
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:曳其輪,貞吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Duệ kì luân, trinh, cát. Cửu Nhị có tài dương cương thượng ứng với Lục Ngũ. Ngũ ở vị tôn, Nhị ở vị ti; cương đối với nhu thời sợ có khi sinh lờn lã; ti đối với tôn thời lại không nên quá dụng tính cương, nên Hào từ bảo cho Cửu Nhị rằng: Ở vào thì gian nguy Vị Tế, có tài như Nhị thiệt quý lắm. Nhưng Nhị phải biết, Lục Ngũ kia vị tuy tôn mà tính lại nhu, nên Nhị cứ ỷ tính dương của mình mà tấn bức Ngũ e không khỏi sinh mối nghi kị mà làm hỏng việc của mày.
Mày chỉ nên tự giảm thế lực của mày, thung dung thủng thẳng vừa bước vừa dừng, tượng như kéo lết lết cái bánh xe mà chớ tiến gấp. Thế thời đạo trinh chính của mày kết quả được cát. Duệ kì luân, ý nghĩa cũng như hào Sơ quẻ Kí Tế, nhưng bên kia thời chỉ được vô cựu mà bên này lại được trinh cát là vì thời đại bất đồng, mà lại bất trung với đắc trung có khác nhau nên hiệu quả cũng khác nhau. Tượng viết: Cửu Nhị trinh cát, trung dĩ hành chính dã. Hào Cửu, vị Nhị, theo như thường lệ thời bất chính, nhưng đây lại nói rằng trinh cát là vì Nhị có đức trung để làm được chính.
Tượng Truyện đây phát minh ý nghĩa Dịch rất minh bạch. Dịch vẫn quý hai chữ trung chính như nhau, nhưng trung lại quý hơn chính, bởi vì chính có lẽ bất trung, duy đắc trung thời không bao giờ bất chính. Trình Truyện nói rằng: Chính hữu bất trung, trung vô bất chính. Trinh cát ở hào này là chỉ vì đắc trung
Hào 3 — Lục Tam
Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六三:未濟,征凶,利涉大川。
Phan Bội Châu chú giải:
Vị Tế, chinh, hung, lị thiệp đại xuyên. Lục là âm nhu, đã vô tài mà lại bất trung, bất chính; ở vào thì Vị Tế mà chỉ cậy bằng năng lực của Tam thời thiệt không làm sao tế nổi. Nếu tấn hành càn thời mắc hung, nhưng mà mưu sự tuy tại nhân mà thành sự lại thường tại thiên. Trong thiên hạ cũng có một hạng người, tài không hay gì, nhưng vì thì may đưa đẩy, hoặc chúng bạn dắt dìu, cũng thường làm nên việc được. Lục Tam tài đức tuy kém mà thời thế thời hay. Vị Tế đã tấn vào đoạn giữa là có cơ gần Tế; Khảm hiểm đã lên đến cuối cùng là có cơ xuất hiểm mà lại chính ứng với Thượng Cửu là dương cương, lấy tài dương cương mà giùm giúp cho Tam, chẳng làm việc khác lớn mặc dầu, nhưng chỉ làm bằng việc thiệp đại xuyên thời như thời thế của Tam cũng thuận lị được.
Hào từ này ý nghĩa hai câu trái nhau, nhưng vẫn bổ túc cho nhau, câu Vị Tế chinh hung là nói theo về tài Lục Tam, vần không phải là người tế thế nên Hào từ có câu ấy là chuyên trọng về phần nhân sự. Câu lị thiệp đại xuyên thời lại nói theo thì của Lục Tam. Vị Tế đã đến giai đoạn giữa mà lại Tam là Khảm chi chung, thì ấy chính nhịp hay cho người xuất hiểm, nên Hào từ có câu lị thiệp đại xuyên là kiêm trọng về thiên thì. Dịch đạo biến hóa vô phương là như thế.
Tượng viết: Vị Tế chinh hung, vị bất đáng dã. Vị Tế sở dĩ chinh hung là vì hào âm ở vị dương là âm nhu mà bất trung, bất chính, tài vị Lục Tam như thế nên chinh thời hung, còn như chỉ nói về thì Lục Tam, thời lị thiệp đại xuyên cũng được. PHỤ CHÚ: Hào từ sáu hào quẻ Kí Tế, không hào nào có tên quẻ. Đến quẻ Vị Tế thời Hào từ năm hào, không tên quẻ. Duy Hào từ Lục Tam có hai chữ Vị Tế. Chúng ta đọc Hào từ Lục Tam, nên tham quan hào Cửu Nhị, Cửu Tứ; Nhị, Tứ thảy có chữ trinh cát mà Lục Tam thời có chữ chinh hung, nhưng chữ chinh hung cặp liền với chữ Vị Tế, ý thánh nhân rằng: Ở vào thì Vị Tế, chỉ nên cư trinh thời cát, như hào Nhị, hào Tứ kia.
Huống gì Lục Tam thời tài hào quá kém, ở vào thì Vị Tế mà tài như thế, chinh tất phải hung. Nhưng thánh nhân lại sợ chúng ta thấy chữ chinh hung mà nghĩ rằng thì Vị Tế là tuyệt đối không tốt nên lại thêm vào câu lị thiệp đại xuyên, khiến cho chúng ta biết: Thì đã đến, Lục Tam vẫn có thể gần tốt, duy như tài Lục Tam, thời mới chinh hung mà thôi. Tiên Nho có nói rằng: Thiên hạ vô bất khả vi chi thì. Chỉ thấy câu Vị Tế, chinh hung mà đổ tội tại thì Vị Tế, xem câu lị thiệp đại xuyên mới hiểu được ý
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:貞吉,悔亡,震用伐鬼方,三年有賞于大國(一作邦)。
Phan Bội Châu chú giải:
Trinh, cát, hối vong. Chấn dụng phạt Quỷ phương tam niên, hữu thưởng vu đại quốc. Cửu Tứ có tài dương cương mà địa vị sở xử lại ở vào Thượng thể, thoát khỏi Khảm hiểm mà tấn lên Li minh, lại ở trên minh có Lục Ngũ là một bậc văn minh nhu trung, quân thần tương đắc mà gặp thì Vị Tế đã quá nửa, công việc Tế đã sắp tới nơi, đáng lẽ được cát, nhưng hiềm vì hào Cửu cư Tứ, e có bất chính mà hữu hối chăng, nên Hào từ răn cho rằng: Tứ đi! Tài mày, địa vị mày vẫn cũng xứng đáng, nhưng chỉ nên thêm trinh cố vào thời được cát mà hối vong.
Vả lại, công việc tế thế, nếu cố tức thời bất thành mà dục tốc thời bất đạt. Mày lại phải phấn phát tinh thần, cổ vũ dũng khí, gặp một việc cần phải dụng binh bài ngoại như đi đánh nước Quỷ phương tất phải cố công ra làm; dầu lâu đến ba năm mới có thưởng tứ ở nước lớn cũng phải trinh cố mà làm lấy. Chấn nghĩa là nhức động; dụng phạt Quỷ phương là ý bảo không nên cô tức, bởi vì, ở thì Vị Tế mà làm việc hưng suy bát loạn, tất phải có dụng uy mới làm nên.
Tam niên là ý bảo không thể dục tốc, bởi vì đạo Tế trong thiên hạ, đã đồ đại sự thời không nên cấp cận công. Phạt Quỷ phương mà lâu đến ba năm, vì có thế, mới toàn được chữ trinh cát. Tượng viết: Trinh cát hối vong, chí hành dã. Tài Cửu Tứ vẫn đủ hữu vi mà lại được thì vừa đúng, chỉ duy gia thêm trinh cố thời phát triển được chí mình, chẳng những cát, hối vong mà thôi mà lại hay dụng phạt Quỷ phương tam niên, thực hành được chí trinh đó vậy. PHỤ CHÚ: Toàn Dịch sáu mươi tư quẻ cát hung thời quan hệ ở thì mỗi quẻ, mà mỗi quẻ sáu hào thời cát hung lại quan hệ ở thì mỗi hào.
Tựu trung khả cát, khả hung, hoặc do cát mà quay lại hung, hoặc do hung mà chuyển sang cát, rất quan hệ là hai hào Tam, Tứ. Tức như Cửu Tam quẻ Thái thời gai tởm cho vận bình bí; Cửu Tứ quẻ Cách thời vui mừng cho hồi cải mệnh, thảy vì thời thế mà xui nên thế, nhưng đắc thì đã đành, mà tạo thì lại cần phải có tài. Cửu Tam quẻ Thái vì quá cương nên phải dạy cho gian trinh; Cửu Tứ quẻ Cách thời cương, nhu tương tế nên tán rằng hữu phu. Như Cửu Tứ đây, đành có tài dương cương, nhưng cũng nhờ gặp thì.
Ở vào thì Vị Tế, hết Khảm tới Li, vận bĩ trước đã qua mà vận thái sau gần tới nên làm nổi việc lớn, như phạt Quỷ phương tam niên, uy danh động đến nước ngoài, ân thưởng khắp ở nước trong nên Tượng Truyện tán cho rằng chí hành dã, thiệt mừng cho có tài tế thế mà lại gặp thì. Xưa nay, những người có chí mà không hành được biết là bao nhiêu, cùng vì không được như thì như Cửu Tứ vậy
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:貞吉,无悔,君子之光,有孚,吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Trinh, cát vô hối, quân tử chi quang, hữu phu, cát. Chữ trinh, cát đây, với chữ trinh, cát ở hào Nhị, hào Tứ, ý nghĩa khác nhau chút đỉnh. Trinh ở Nhị, Tứ thời có ý là lờí răn đe, Trinh ở Lục Ngũ thời chỉ là lời tán mỹ. Lục Ngũ đã làm chủ cho Ngoại Li là văn minh đã có đức sẵn mà lại nhu đắc trung là một người hay hư tâm lạc thiện, hạ ứng với hào Cửu Nhị là bạn dương cương. Vì Ngũ sẵn có đức trung trong mình nên hết lòng tin Nhị, mà Nhị cũng hết lòng giúp Ngũ.
Nhu trung mà trinh như thế, chắc được cát mà vô hối. Đức đã tốt, bạn cũng hiền, lại được thì Vị Tế đã đến lúc gần cùng, in như trời mưa sắp tạnh mà vừng nhật hiện ra, cảnh đêm đã tàn mà vừng đông vừa rạng, vẻ văn minh của quân tử rực rỡ biết dường nào. Vả lại quang huy đó, không chỉ rực rỡ ở bề ngoài mà thôi, công xứng với đức, thực xứng với danh, vẫn là chí thành phát lộ kia mà. Như thế, chắc được cát mà lại cát thêm. Hai chữ cát ý nghĩa có khác nhau, chữ cát trên dính với chữ trinh là cát thuộc về phần đức; chữ cát dưới dính với quang hữu phu là cát thuộc về phần công, kết quả thời đồng mà tạo nhân thời khác, hào này công đức kiêm ưu, cát nhi hữu cát.
Tuy căn bản vì bản thân Ngũ mà cũng nhờ có sức Nhị, Tứ phụ bật cho nên Hào từ chung nhau bằng chữ trinh cát, để cho rõ ý thượng hạ đồng đức. Tượng viết: Quân tử chi quang, kì huy cát dã. Tia sáng của Ngũ là vì có đức văn minh mà phát việt rõ ràng nên Tượng Truyện lại tán thêm rằng: Kì huy cát dã ( Huy nghĩa là tia sáng chóe lòe)
Hào 6 — Thượng Cửu
Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上九:有孚于飲酒,无咎,濡其首,有孚失是。
Phan Bội Châu chú giải:
Hữu phu vu ẩm tửu, vô cựu, nhu kì thủ, hữu phu thất thị. Địa vị Thượng Cửu ở cuốì cùng Vị Tế, tiền đồ có hai ngả. Một là cực kì Vị Tế thời không biết Tế vào đâu. Một là Vị Tế chi cực chính là thì quay lại Tế. Theo như nghĩa trước thời địa vị Thượng là xấu; theo như nghĩa sau thời địa vị Thượng lại tốt. Thì nghĩa vẫn như thế mà tốt hay xấu thời lại quan hệ ở người nên Hào từ giả thiết làm hai cách mà bảo cho Thượng rằng: Thượng Cửu dương cương ở trên quẻ là dương chi cực, ở cuối cùng thể Li là minh chi cực; cương cực thời chẳng sợ bất cương mà chỉ sợ quá cương; minh cực thời chẳng sợ bất minh mà chỉ sợ quá minh.
Quá cương, quá minh thời hay mắc phải bệnh táo vọng. Đã táo vọng thời khinh cử bạo động mà đến nỗi ngộ sự thời thất thì. Bây giờ đã ở thì Vị Tế chi chung, các công việc hữu vi đã có những người hữu vi như Tứ, Ngũ làm ráo. Thượng chỉ nên ưu du hàm dưỡng, tự tín lấy đạo nghĩa trong mình mà chờ thì vận đưa đến. Bởi vì Thượng là người vô vị mà lại gặp lấy thì Tế chi chung, chỉ nên lạc thiên an mệnh là một cách vừa phải. Hữu phu nghĩa là tự tín; ẩm tửu nghĩa là tự lạc.
Câu hữu phu vu ẩm tửu, cũng như câu nhu vu tửu tự ở quẻ Nhu; chỉ là sự ngoại tiêu giao, chờ thì mà động, chứ không phải ẩm tửu thiệt. Nếu trái lại, tự lạc mà đến nỗi quá chừng, mê mẩn với trăng hoa, mệt mà cùng sen cúc, thậm đến nỗi rượu lấm cả đầu, như thế lại là túng tứ thất thì, té ra cách tự tín của Thượng thái vô nghĩa lí. Nhu kì thủ nghĩa là ẩm tửu mà say mê; hữu phu thất thị nghĩa là hữu phu mà trái lẽ. Chữ hữu phu đây khác chữ hữu phu ở mọi nơi; phu chỉ có nghĩa là tự tín mà thôi.
Chữ phu ở quẻ Trung Phu, với chữ phu ở mọi nơi thời phu là chí thành. Lòi Hào từ đây, chẳng phải bảo Thượng Cửu chỉ vui chơi mà thôi. Vì sợ Thượng Cửu quá dụng tài cương minh mà vọng động sinh sự, tất làm hỏng thì nghĩa của Thượng. Vậy nên Hào từ răn cho như thế. Nếu chỉ hữu phu vu ẩm tửu mà không đến nỗi nhu kì thủ thời vừa đắc trung. Xem Tượng Truyện dưới này thời rõ. Tượng viết: Ẩm tửu nhu thủ, dìệc bất tri tiết dã. Ẩm tửu vẫn không hại gì, nhưng mà đến nổi nhu thủ cũng là quá chừng không biết tiết vậy.
Chữ tiết ở đây như nghĩa chữ thì, không biết tùy thì mà làm cho đúng đạo trung là bất tri tiết. PHỤ CHÚ: Bắt đầu đọc quẻ Càn đầu hết Dịch thời thấy câu lục vị thì thành, lại có câu dữ thì giai hành, dữ thì giai cực. Vì dữ thì giai hành mà có sáu mươi tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào; vì có dữ thì giai cực mà có hai quẻ Kí Tế, Vị Tế ở cuối cùng Kinh. Ở quẻ Kí Tế có câu bất như Tây lân chi thì dã. Ở quẻ Vị Tế có câu diệc bất tri tiết dã.
Chữ Tiết chính là chữ thì. Suốt đầu suốt đuôi, triệt thượng triệt hạ, chỉ một chữ thì vừa tóm hết bộ Dịch. Nhưng chỉ nói bằng thì mà thôi, té ra hoàn toàn thuộc về phần tự nhiên nên phải lấy chữ tiết thay vào chữ thì, càng thấy được đạo lí thuộc về phần đương nhiên. Vì thì mà phải có việc, mà làm việc lại phải theo thì, muốn tùy thì biến Dịch cho đúng với đạo trung nên phải có Dịch. Nhưng cuối cùng Dịch, lại đặt quẻ Vị Tế, thời chúng ta càng nên biết rằng: Thì không bao giờ cùng, việc cũng không bao giờ xong, mà Dịch cũng không bao giờ hết.
Đông chi chung, tức là Xuân chi thỉ, dạ chi chung tức là trú chi thỉ. Tắc chi chung, tức là thông chi thỉ. Chúng ta tùy thì xử sự, chỉ cần nhất là hai chữ tri tiết. Tiết Hạ chí tới mà lo soạn sửa sắm áo cát; tiết Đông chí qua mà lo sắm sửa áo cầu; tiết Lụt chưa tới mà lo dự bị thuyền bè; tiết Hạn chưa tới mà lo dự bị đồ tát nước. Trăm việc, ngàn việc mà thảy biết tiết như thế thời có bao giờ lo thất bại đâu. Chúng ta nhận kỹ ý nghĩa chữ Vị Tế mới biết được thì vận vẫn là vô cùng.
Nhận được ý nghĩa hai chữ tri tiết, lại biết được thiên thì cũng cần có nhân sự. Thì là tạo hóa tự nhiên, chung tắc hữu thỉ; tiết là đạo lí đang nhiên, tri mới năng hành. Ý nghĩa Dịch dạy người thâm thiết như thế, chúng ta khi mở quyền mà xem, cũng nên ở khi xếp quyền mà nghĩ, chứ không phải đọc quẻ xem hào mà xong
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Hỏa Thủy Vị Tế là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 64 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Hỏa Thủy Vị Tế Là Gì?
Thượng quái là Ly, tượng lửa; hạ quái là Khảm, tượng nước. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 未濟: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Hỏa Thủy Vị Tế. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 63: Thủy Hỏa Ký Tế


Hotline