Quẻ Thủy Lôi Truân: Gian Nan Lúc Khởi Đầu, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Thủy Lôi Truân số 3: Khảm trên, Chấn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Thủy Lôi Truân (屯) là quẻ số 3 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Khảm (nước), hạ quái là Chấn (sấm). Truân nói về tình thế mới sinh thành nhưng còn khó khăn. Chấn ở trong, Khảm ở ngoài tạo nên hình tượng động trong hiểm; vì thế ý chí tiến lên cần đi cùng sự sắp đặt và người trợ giúp.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Thủy Lôi Truân Là Gì?

Số thứ tự 3/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Thủy Lôi Truân — 屯
Thượng quái Khảm — Nước
Hạ quái Chấn — Sấm
Hào dương 2
Hào âm 4

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Chấn, ba hào sau tạo thượng quái Khảm. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thủy Lôi Truân

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

屯:元亨,利貞。勿用有攸往,利建侯。

Nguyên Văn Thoán Truyện

屯,剛柔始交而難生,動乎險中,大亨貞。雷雨之動滿盈,天造草昧,宜建侯而不寧。

Nguyên Văn Đại Tượng

雲雷,屯;君子以經綸。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Khảm trên; Chấn dưới Quẻ này là quẻ Thủy Lôi Truân. Ba vạch dưới: Sơ đơn, Nhị sách, Tam sách, là quẻ Chấn ở dưới, Chấn là Nội Quái. Ba vạch trên: Tứ sách, Ngũ đơn, Thượng sách, là quẻ Khảm ở trên, Khảm là Ngoại Quái. Chấn là Lôi, Khảm là Thủy, thành ra quẻ Thủy Lôi Truân. TỰ QUÁI Tự quái: Hữu thiên địa dã, nhiên hậu vạn vật sinh yên, doanh thiên địa chi gian giả, duy vạn vật, cố thụ chi dĩ Truân. Truân giả doanh dã; truân dã, vật chi thỉ sinh dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Trên đây quẻ Càn quẻ Khôn, là có trời có đất rồi.

Có trời đất vậy sau vạn vật mới sinh nở. Đầy ở giữa khoảng trời đất, tất duy vạn vật, vậy sau quẻ Càn, Khôn tiếp lấy quẻ Truân. Truân nghĩa là đầy, truân nghĩa là lúc vạn vật mới sinh ra. Vì lúc bắt đầu vạn vật mới sinh ra còn chưa lấy gì làm hanh thái được, nên lại có một nghĩa Truân là khốn nạn. Bây giờ thích Soán từ của Văn Vương. SOÁN TỪ Truân, Nguyên, hanh, lị, trinh, vật dụng hữu du vãng, lị kiến hầu. Quẻ Truân này, Ngoại Quái Khảm, Khảm là hiểm. Nội Quái Chấn, Chấn là động.

Ở trong lúc hiểm mà hay hành động được, tất nhiên là hạng người có gan mạo hiểm, có chí tấn thủ, và có tài hữu vi. Đưa người ấy ra giúp đỡ buổi truân, có lẽ hanh thông lắm, nhưng vì theo về thời thế thời đương buổi truân nạn nên lại phải cẩn thận kĩ càng, đại đởm mà lại phải thường giữ tiểu tâm, nên bền giữ đức trinh mà chẳng nên vội vàng khinh tấn. Vãng nghĩa là tấn hành. Tuy nhiên, một người có tài đức, mà gặp buổi thiên hạ đương truân, không lẽ chẳng ra cứu đời, nhưng muốn cứu đời không lẽ một sức mình mà làm xong, tất phải nhờ nhiều người bạn hiền giúp đỡ.

Nói về việc quốc gia, tất phải nhờ hiền thần phụ bật. Suy ra việc xã hội cũng thế, nên có câu: Lị kiến hầu. Lị nghĩa là nên; kiến nghĩa là dựng đặt; hầu nghĩa là tước hầu. Chữ hầu này chỉ vào Sơ Cửu. Bởi vì Sơ Cửu có đức dương cương, làm chủ nội Chấn, là một người chủ yếu ở trong trường chấn động có tượng làm được hầu. Quẻ Chấn nguyên đầu là quẻ Khôn, vì Sơ dương đổi vào thành ra Chấn nên hào Sơ là thành quái chi chủ. PHỤ CHÚ: Chữ Hầu ở quẻ này là vì khi Văn Vương làm Dịch đương ở đời còn có chế độ phong kiến.

Nếu chẳng phải hầu, thời không có thế lực mà gánh nổi việc. Tỉ như: Tề Hầu là Hoàn Công, Tấn Hầu là Văn Công, thảy có tài làm nên nghiệp bá, xây đổi được cuộc đời, chẳng qua đương thì phong kiến thời nói thế vậy. Bây giờ chúng ta chẳng phải ở vào đời phong kiến, thời lãnh tụ ở trong một đảng hoặc tổng trưởng ở trong đám ủy viên cũng có thể thay được chữ hầu, chỉ cốt hạng người có tài đức đủ tế truân là gọi bằng hầu được cả. Ilễ học Dịch nên lấy ý mà suy cho thông, chớ nên câu nệ ở chữ.

SOÁN TRUYỆN Soán viết: Truân, cương, nhu thỉ giao nhi nạn sinh. Động hồ hiểm trung, đại hanh trinh. Lôi vũ chi động mãn doanh, thiên tạo thảo muội, nghi kiến hầu nhi bất ninh. 1. Truân: Cương, nhu thỉ giao, nhi nạn sinh. Soán Truyện thích ý nghĩa Soán từ của Văn Vương rằng: Quẻ Truân này tiếp ở sau Càn, Khôn. Trên kia Càn là quẻ thuần cương, Khốn là quẻ thuần nhu. Cương, nhu chia làm hai đường là cương, nhu chưa giao. Bây giờ vào quẻ Truân, quẻ dưới một hào cương, hai hào nhu, quẻ trên cũng một hào cương, hai hào nhu; thế là cương, nhu bắt đầu giao với nhau, nhưng vì lúc bắt đầu mới có vạn vật, xử vào thời đại ấy, công việc sinh dục hãy còn gian nan lắm.

Vậy nên đặt tên quẻ bằng Truân. 2. Động hồ hiểm trung. Đây chỉ nói về tượng quẻ. Quẻ dưới Chấn là động, quẻ trên Khảm là hiểm. Khảm trên, Chấn dưới, thành quẻ Truân. Thế là phát động ở giữa chốn hiểm. 3. Đại hanh trinh. Đây nói về đức quẻ. Đương giữa lúc hiểm mà hành động được, tất là người tài đức phi thường, nhưng trong khi làm được sự nghiệp phi thường tất lại kiên tâm trì chính luôn luôn, nên nói rằng: Đại hanh trinh, nghĩa là vẫn đại hanh, nhưng phải trinh mới được. 4. Lôi vũ chi động mãn doanh.

Đây là theo tượng quẻ mà thích cho hết nghĩa chữ Truân. Chấn Nội Quái là tượng sấm, Khảm Ngoại Quái là tượng mưa. Hễ âm dương hòa hợp, âm điện, dương điện tiếp xúc với nhau, mới thành mưa, sấm. Ở giữa lưỡng gian, chỉ thấy động cơ dầy dặc, tuy là lúc Truân mà chính là cơ hội tốt của trời đất vậy ( Mãn doanh nghĩa là đầy tràn, cũng là thích nghĩa chữ Truân). 5.Thiên tạo thảo muội, nghi kiến hầu nhi bất ninh. Đây là thích riêng nghĩa câu Lị kiến hầu. Thiên tạo nghĩa là vận trời; thảo nghĩa là hỗn tạp; muội nghĩa là tối mờ.

Bốn chữ ấy là hình dung cái tượng thì đương truân nạn. Thánh hiền hào kiệt xử vào địa vị ấy, tất không thể nằm cao an nghỉ, tất phải đa phương cầu trợ, tìm cho được người giúp đỡ với mình mới thành được công việc tế Truân, ấy là nên kiến hầu, mà chẳng nên an ở vô sự ( Ninh nghĩa là an ở). ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Vân lôi Truân, quân tử dĩ kinh luân. Khảm tượng là vân, Chấn tượng là lôi. Theo hai tượng ấy thời chỉ thấy mây, nghe sấm mà chưa thấy mưa. Cơ trời còn ở trong lúc sắp đặt un nấu nên gọi bằng Truân.

Tượng vào việc người thời là xử vào đời truân nạn, thiên hạ vẫn đương mong trị mà cuộc loạn còn chưa dẹp xong. Quân tử xử vào thời đại này, xem tượng ấy mà biết rằng: Mây có rồi, sấm có rồi, thế nào cũng đến ngày mưa tới. Đời đương truân nạn, chính là thì tiết hữu vi của mình, thời phải đem tài đức của mình ra mà kinh luân việc thiên hạ. Kinh luân, nghĩa là: sắp đặt sửa sang, ví như trong việc dệt tơ, chỉnh lí ra đường ngang, sợi dọc, kết hợp tất thảy sợi tơ mà tổ chức cho thành một tấm, ấy là nghĩa chữ kinh luân.

Kinh nghĩa là phân cho ra từng sợi, luân nghĩa là dệt thành tấm. Tỉ như, để tổ chức cho thành một đoàn thể, kiến thiết cho được một quốc gia, xã hội, tuy lớn, nhỏ có khác nhau, tất thảy phải có tài kinh luân mới làm được

Sáu Hào Của Quẻ Thủy Lôi Truân

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初九:磐(一作盤)桓,利居貞,利建侯。

Phan Bội Châu chú giải:

Bàn hoàn, lị cư trinh, lị kiến hầu. Cửu là dương hào, Sơ là vị ở dưới hết, hào dương thời sẵn tài có cương minh, vẫn là người có thể tế Truân, nhưng vì còn ở hạ vị thời chưa tấn hành được; tài tuy đủ hữu vi, chí tuy muốn hữu vi, nhưng vì cảnh ngộ bắt buộc mình, nên đi đứng ra hình khó khăn, muốn lên, nhưng mà cứ dùng dằng. Tuy thế, há phải quyết chẳng tấn hành đâu, chỉ chập chững lựa thì mà thôi. Tuy nhiên, lí trong thiên hạ, đã có như lời Đức Khổng nói rằng: Bất hoạn vô vị, hoạn sở dĩ lập ,.

Người ta xử vào thời đại Sơ Cửu, chỉ nên lo tấn đúc tu nghiệp, tự xử lấy đức trinh. Tài đức đã được như Sơ Cửu mà thiên hạ lại đương thì Truân, ai chịu để những bạng người ấy nằm không đâu! Tất nhiên cũng gặp bậc thánh minh đặt mình lên ở vị tế truân. Chữ hầu ở đây cũng là chữ hầu ở Soán từ, là nhằm bảo: Tài đức như Sơ Cửu nên tiến cử lên làm hầu vậy. Tượng viết: Tuy bàn hoàn, chí hành chính dã. Dĩ quý há tiện, đại đắc dân dã. Tuy vì thời thế mà phải bàn hoàn nhưng tâm sự của mình vẫn đi một đường chính vậy.

Sở dĩ Hào từ lại có câu lị kiến hầu, bởi vì trong quẻ Truân này, toàn sáu hào, chỉ có hai hào dương, còn bốn hào thảy âm. Dương là quý, âm là tiện. Sơ là dương quý, mà chịu ở dưới bốn hào âm, tượng như người có tài đức đáng quý, mà chịu lún với hạng người đức tài hèn mọn. Người mà quên hết tài đức của mình, chịu ti hạ với quần chúng, đức thịnh lệ cũng được như thế, đặt lên làm hầu, tất nhiên thiên hạ ai cũng hân duyệt mà theo mình vậy. PHỤ CHÚ: Lời Tượng hào này tỉ như người đời xưa chính như ông Chu Công một bận ăn ba lần nhổ cơm, một lúc gội đầu ba lần nắm tóc dậy để gấp tiếp kiến sĩ phu trong thiên hạ.

Ngụy Vũ Đế có câu: Chu Công thổ bô, thiên hạ quy tâm. Lại như: Vua Quang Trung nước ta, bắt được thầy tớ vua Gia Long là ông Nguyễn Huỳnh Đức, dắt lên nằm ngủ với mình một giường, đó cũng tượng như hào này

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:屯如邅如,乘馬班如,匪寇婚媾,女子貞不字,十年乃字。

Phan Bội Châu chú giải:

Truân như, chiên như, thừa mã ban như, phỉ khấu, hôn cấu, nữ tử trinh bất tự, thập niên nãi tự. Lục là hào âm, Nhị là vị âm. Nhị lại ở giữa Hạ Quái, thế là một hào âm nhu vừa đắc trung vừa đắc chính. Tượng như một người con gái, tài đức phẩm hạnh đáng được một người chồng rất tốt, mà lại ở trên có Cửu Ngũ dương cương đắc trung, đắc chính, tượng là một người chồng chính đáng của Lục Nhị, nhưng vì ở về thời đại Truân là nhân sự còn bế tắc bất thông. Huống hồ kề cạnh mình có Sơ Cửu là một hào dương cương cũng muốn làm thân với Lục Nhị, vì Nhị e né Sơ, tuy đành Sơ chẳng phải chính ứng với mình mà hoàn cảnh lôi thôi.

Nếu Sơ là một tay cường bạo, thời thân mình thể nhu, chất nhược e khó ứng phó cho được lưỡng toàn. Vì thế nên tình hình Lục Nhị tấn giả nan, thối giả nan, ra một cách khốn đốn khó khăn, tượng như người cưỡi ngựa muốn tới mà dùng dằng luẩn quẩn không dám tới. Thánh nhân lúc bấy giờ mới vẽ một phương châm cho Lục Nhị rằng: Anh Sơ kia cũng vẫn người tốt, sở dĩ thân cận với Nhị, chẳng phải là tay cướp đâu, chỉ là cầu kết hôn với Nhị mà thôi. Nêu bản thân Nhị thiệt là con gái trinh chính, thời khăng khăng giữ mực, chờ người chính ứng với mình là Cửu Ngũ, chẳng chịu gả mình cho Sơ Cửu.

Lòng mình kiên cố, cùng cực tất thông, dầu lâu chăng nữa cũng mười năm mà thôi, bạn tri kỷ tìm tới mình, thời mình tất là vợ chính đáng của Cửu Ngũ. Chiên nghĩa là quanh quẩn; ban nghĩa là dùng dằng; phỉ khấu nghĩa là chẳng phải giặc; hôn cấu nghĩa là cầu làm vợ chồng; tự nghĩa là con gái gả lấy chồng. Hào này chỉ là thủ tượng bằng nam nữ tương cầu. Suy ra thầy trò bạn hữu kết hợp với nhau cũng thảy như thế. Nếu chẳng phải đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thật một người chính giao với mình thời chớ nhẹ dạ non lời mà mắc phải lỗi thất tiết.

Tỉ như: Ông Khổng Minh đời Tam Quốc: Tào Tháo, Tôn Quyền rước ông mà ông chẳng dậy, chờ đến Lưu Tiên Chúa ba lần rước ông, ông mới chịu ứng sính. Đó chính là nghĩa câu nữ tử trinh bất tự, thập niên nải tự. Tượng viết: Lục Nhị chi nạn, thừa cương dã, thập niên nải tự, phản thường dã. Cảnh ngộ Lục Nhị sở dĩ khốn nạn, là vì ở trên Sơ Cửu, tượng như cưỡi hào dương cương vậy. Nhưng Lục Nhị kiên trinh giữ tiết cố chờ được kẻ tri kỉ của mình, tuy vẫn có bức cận với Sơ mà cuối cùng vẫn kết hợp với Cửu Ngũ.

Xưa nay minh quân, hiền tướng, trinh nữ, lương phu tất nhiên gặp gỡ nhau, đó là lẽ thường. Thập niên nãi tự là quay trở lại lẽ thường đó vậy. Phản nghĩa là quay trở lại; chẳng phải phản nghĩa là trái

Hào 3 — Lục Tam

Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六三:即鹿无虞,惟入于林中,君子幾不如舍,往吝。

Phan Bội Châu chú giải:

Tức lộc vô ngu, duy nhập vu lâm trung, quân tử cơ bất như xá, vãng lẫn. Lục là âm hào, Tam là dương vị. Âm cư dương vị là bất chính, Tam lại bất trung. Tính chất vẫn đã bất chinh bất trung, lại ở vào thời đại Truân mà người ứng với mình là Thượng Lục cũng âm nhu, không thể ứng với Tam được, tượng là một người tài hèn sức mọn, lại không thấy bạn dắt dìu cho mình, đáng lẽ lo độc thiện kì thân, chớ cầu cạnh với ai là phải, nhưng vì tính chất Tam bất trung, bất chính nên chẳng khỏi láu táu chạy càn, tượng như người tham ăn thèm thịt hươu, tự mình đi đuổi hươu.

Vì không người thầy săn là ngu nhân dẫn đường cho nên hươu chẳng thấy đâu mà bị sụp vào trong rừng. Nếu Lục Tam mà là quân tử, thời tất nhiên thấy được khi còn cơ vi, chẳng gì bằng an nghỉ, đừng chạy càn. Nếu cứ chạy hoài, thiệt đáng xấu hổ. Tượng viết: Tức lộc vô ngu, dĩ tòng cầm dã, quân tử xá chi, vãng lẫn, cùng dã. Tức lộc vô ngu, vì lòng tham muốn được cầm vậy. ( Cầm là những giống sinh vật ở trong núi). Quân tử thời chỉ nên ở an địa vị, nếu cứ chạy càn, thời đến lúc cuối cùng chỉ xấu hổ mà thôi.

PHỤ CHÚ: Hào từ, tượng từ chỉ là răn một hạng người táo tấn. Thâm ý tại bốn chữ tức lộc vô ngu. Hễ giữa mình đã tài hèn khôn cạn, học thức non kém, địa vị lại dở dang, thời nước bước đường đi nên chờ có thầy hay bạn tốt đem đường chỉ lối cho mình. Ví như săn hươu mà được ngu nhân làm thầy hướng đạo. Nếu chẳng thế, thời sụp vào giữa rừng, đến nỗi chẳng biết đường mà ra. Đó là vì tội đi càn, chẳng tránh khỏi được chữ lẫn

Hào 4 — Lục Tứ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六四:乘馬班如,求婚媾,往,吉无不利。

Phan Bội Châu chú giải:

Thừa mã ban như, cầu hôn cấu, vãng cát, vô bất lị. Hào Lục ở vị Tứ, là âm nhu đắc chính. Tính chất vẫn là người hiền, nhưng vì tài mình âm nhu, lại gặp lúc thì Truân, không thể chỉ cậy sức mình mà tấn thủ được. Tuy thân cận với Ngũ nhưng Ngũ đã chính ứng với Nhị rồi. Tứ muốn thượng tấn mà sợ Ngũ chẳng cần dùng đến mình nên phải chập chững dùng dằng, muốn lên mà lên chẳng được, tượng như cưỡi ngựa mà dùng dằng chẳng dám tới. Nguyên Tượng vẫn như thế, nếu Tứ là một người minh triết liệu nhân, liệu kỉ được rành rõi thời chớ nên cầu với Ngũ mà quay xuống cầu với Sơ, Sơ là hào cương minh có tài tế truân, lại có đức dĩ quý há tiện.

Tứ cầu với Sơ, Sơ là chính ứng với Tứ, tất nhiên tâm đầu ý hợp, ấy là cầu được hôn cấu. Khi Sơ đã thuận ứng rồi, thời đề huề với nhau ra gánh việc cứu đời, tất làm nổi công việc, tới đâu cũng được như ý. Tượng viết: Cầu nhi vãng, minh dã. Tứ đã âm nhu vô tài, vẫn chẳng phải người tế Truân, nhưng vì có đức minh tri nhân, biết Sơ là bậc hiền tài, chịu khuất kỉ hạ hiền, lấy mình là bậc trên mà chịu hạ cầu với người dưới. Nhờ tài người làm nên việc mình, kết quả vãng cát, vô bất lị, đó là hiệu quả của đức minh vậy.

PHỤ CHÚ: Xem Hào từ Tượng từ Lục Tứ nên xem cả Hào từ Tượng từ Lục Nhị, cũng là một hào Sơ muốn làm hôn cấu, nhưng Nhị thời bất tự với Sơ, Tứ thời vãng cầu với Sơ. Sở dĩ bất đồng như thế là có hai đạo lí. Một là duy hiền tri hiền, d ương cương, trung chính như Cửu Ngũ, tất có âm nhu trung chính như Lục Nhị mới kết hợp với nhau, còn như Tứ, âm nhu bất trung nên chỉ hạ giao với Sơ là đúng, đó là một lẽ. Lại một đạo lí nữa là nhân dĩ loại tụ.

Tứ là chính ứng với Sơ nên địa vị tuy cận với Ngũ mà phải cầu với Sơ; Nhị là chính ứng với Ngũ nên địa vị tuy cận Sơ, mà phải chờ Ngũ, chính như lời Đức Khổng nói: Đạo bất đồng, bất tương vi mưu. nghĩa là chẳng phải người đồng đạo với mình, chớ nên cùng nhau bàn việc, cũng như ý nghĩa hai hào này vậy

Hào 5 — Cửu Ngũ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九五:屯其膏;小貞吉,大貞凶。

Phan Bội Châu chú giải:

Truân kì cao, tiểu trinh cát, đại trinh hung. Hào Cửu vị Ngũ, dương cương mà lại trung chính lại được ở vị tôn, đáng lẽ là việc gì cũng xong, nhưng vì ở về đời Truân nạn mà lại ở dưới có Sơ Cửu, cương minh tài cán thu được hết lòng dân, ví như minh quân tại thượng, mà hạ hữu quyền thần, bao nhiêu quyền bính bị quyền thần cướp ráo. Ngũ chỉ hư cư tôn vị, thành ra muốn tuyên bố đức trạch gì cũng rất khó khăn, tượng như truân kì cao ( Cao nghĩa là dầu mỡ, ví vào ơn trạch của người trên; truân nghĩa là keo rít, là đức trạch chẳng tuyên bố ra được).

Thời thế tuy vẫn như thế, nhưng vì Cửu Ngũ là dương cương cư tôn, có đức, có vị, quyết chẳng chịu khoanh tay ngồi dòm, tất nhiên muốn chỉnh đốn thì cuộc, ra tay đại hữu vi, nhưng khốn nạn thay, uy quyền chẳng ở trong tay mà địa vị lại ở trên Sơ, thành ra thế cưỡi cọp, nên thánh nhân mới bày cho một phương pháp rằng: Ông nếu muốn hữu vi tất phải ủy khúc chu toàn, làm lần lần từ điếu nhỏ làm đi thời mới được an lành. Tượng là tiểu trinh thời cát, nghĩa là chỉnh đốn việc nhỏ mà thôi.

Nếu chẳng hàm nhẫn được như thế mà muốn ra tay chỉnh đốn những việc thật lớn e đến nỗi quyền thần chẳng dung mình mà mắc lấy họa hoạn, Tượng là đại trinh thời hung. Tượng viết: Truân kì cao, thí vị quang dã. Hào từ sở dĩ nói rằng: truân kì cao là vì thời thế bắt buộc nên tuy có đức như Cửu Ngũ mà ân trạch mình chưa rõ rệt vậy. PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Hào từ này càng tin lời thầy Mạnh nói: Tuy hữu trí tuệ, bất như thừa thế; tuy hữu tư cơ, bất như đãi thì. nghĩa là tuy sẵn có trí tuệ, nhưng cũng phải cậy vào thế mạnh; tuy sẵn có tư cơ nhưng cũng phải chờ có thì đến.

Việc thiên hạ nếu chỉ trí tuệ, tư cơ mà làm xong thời Cửu Ngũ quẻ Truân làm gì đến nỗi truân kì cao mà thánh nhân phải bảo đại trinh hung? Ngũ là dương cương, trung chính, há không trí tuệ rư? Ngũ là tôn vị, há không tư cơ rư? Nhưng vì ở đời Truân nạn là thì đã khó khăn, tại hạ có quyền thần lăng bức mà bản thân lại sụp vào giữa nguy hiểm (Ngũ ở ngoại Khảm là hãm ở hiểm trung), là thế cùng chật hẹp éo le. Thời thế đã chẳng thuận tiện, thời tuy trí tuệ, tư cơ như Cửu Ngũ cũng chỉ là tiểu trinh được, mà đại trinh thời chẳng xong.

Xem sử nước ta như đời hậu Lê, vua Lê bị áp bức với chúa Trịnh. Vua Cảnh Hưng vẫn là một ông vua hiền mà phải ngồi lặng bốn mươi năm. Đến đời vua Chiêu Thống muốn ức Trịnh phục Lê thời đến nỗi quốc vong gia táng, đó là đại trinh hung

Hào 6 — Thượng Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上六:乘馬班如,泣血漣如。

Phan Bội Châu chú giải:

Thừa mã ban như, khấp huyết liên như. Hào Thượng là vạch trên hết quẻ Truân, tượng là đời Truân nạn đã đến lúc cực điểm. Ở vào thời đại ấy, nếu có đại tài đại trí là rất hay. Là vì truân cực, tất thông đó vậy. Nếu bất tài bất trí, thời thường bị chết oan, là vì tài hèn thời chẳng đỡ nổi gánh nặng, gánh đổ thời thân cũng nguy. Thượng Lục âm ám nhu nhược mà lại ở trên hết quẻ Truân, tượng là một người bất tài, bất trí mà xử vào địa vị khốn cực, tượng như cưỡi ngựa đứng sần, quẹt đôi hàng giọt lệ mà thôi.

Khấp huyết nghĩa là khóc chảy nước mắt máu. Liên như nghĩa là nước mắt chảy đầm địa. Tượng viết: Khấp huyết liên như, hà khả trường dã. Nghĩa là: Một hạng người như Thượng Lục quẻ Truân chính là tài hèn, vận ách, đứng vào thiên diên đào thải, không thể sinh tồn được nữa, còn mong gì lâu dài nữa đâu. PHỤ CHÚ: Đọc hết lời sáu hào quẻ Truân, phát minh được một đạo lí rất rõ rệt. Việc thiên hạ nhất thiết phải có thì, làm việc thiên hạ nhất thiết phải có người. Có người mà không thì thời việc chẳng làm nên, có thì mà không người thời việc chẳng ai làm, té ra không việc.

Đạo lí trong Kinh Dịch, mỗi một quẻ, một tượng là một đám công việc. Tỉ như một quốc gia, một xã hội cũng tóm vào trong một quẻ, mỗi một hào là một thì gian trong việc ấy. Quẻ có tốt xấu ở từng quẻ, là việc ấy chung, thời tốt xấu cũng chung; hào có tốt xấu riêng từng hào là thì của mỗi hào riêng nên tốt xấu cũng riêng. Việc, tỉ như không gian; thì, tỉ như thì gian. Tỉ như chung một quả địa cầu, mà buổi đêm ở Mỹ Châu trái lại là buổi ngày ở Á Châu. Buổi nóng ở Phi Châu trái lại là buổi rét ở Á Châu.

Việc in nhau mà thì vẫn khác nhau cũng như thế. Vậy nên, làm việc phải lựa thì. Thì đúng thời việc mới xong. Xem như quẻ Truân, Sơ Cửu tuy dương cương vẫn là người có tài, nhưng ở vào vị Truân; Sơ là lúc bắt đầu vào thì Truân nạn, còn có thể để chuyển toàn nên Hào từ Sơ Cửu có chữ lị. Thượng Lục âm nhu, vẫn là người vô tài, lại xử vào thì Truân cực, chính là thì khốn nạn cực điểm nên Hào từ có chữ khấp huyết. Thế mới biết thì có sự quan hệ rất lớn, nhưng thì lại tất cần có nhiều người mới xong.

Sơ có Tứ làm hôn cấu. Nhị có Ngũ làm hôn cấu, vì gặp bạn tế truân nên Tứ Ngũ được chữ cát. Tam vì không thấy bạn nên mắc chữ lẫn. Thượng cũng vì không thầy bạn nên mắc chữ khấp huyết. Tam, Thượng tuy ứng với nhau, như vì hai hào thảy âm nhu cả, không ứng viện cho nhau được; ở đời Truân nạn mà không thấy bạn nên hai hào thảy chẳng xong rồi. Đó lại là một nghĩa nên biết lắm

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thủy Lôi Truân là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Thủy Lôi Truân Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 3 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thủy Lôi Truân Là Gì?

Thượng quái là Khảm, tượng nước; hạ quái là Chấn, tượng sấm. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 屯: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thủy Lôi Truân. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 2: Thuần Khôn · Quẻ 4: Sơn Thủy Mông

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline