Quẻ Phong Sơn Tiệm: Tiến Dần Theo Trình Tự, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Phong Sơn Tiệm số 53: Tốn trên, Cấn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Phong Sơn Tiệm (漸) là quẻ số 53 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Tốn (gió), hạ quái là Cấn (núi). Tiệm nói về tiến dần. Hình tượng chim hồng đi qua các chỗ đậu khác nhau trong sáu hào giúp đọc tiến trình từng bước và yêu cầu giữ chính trong sự tiến lên.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Phong Sơn Tiệm Là Gì?

Số thứ tự 53/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Phong Sơn Tiệm — 漸
Thượng quái Tốn — Gió
Hạ quái Cấn — Núi
Hào dương 3
Hào âm 3

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Cấn, ba hào sau tạo thượng quái Tốn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Phong Sơn Tiệm

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

漸:女歸吉,利貞。

Nguyên Văn Thoán Truyện

漸之進也,女歸吉也。進得位,往有功也。進以正,可以正邦也。其位剛,得中也。止而巽,動不窮也。

Nguyên Văn Đại Tượng

山上有木,漸;君子以居賢德,善俗。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Tốn trên; Cấn dưới Quẻ này là quẻ Phong Sơn Tiệm. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn phong, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Phong Sơn Tiệm. TỰ QUÁI Tự quái: Cấn giả chỉ dã, vật bất khả dĩ chung chỉ, cố thụ chi dĩ Tiệm, Tiệm giả tiến dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Cấn, tiếp lấy quẻ Tiệm là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Cấn, Cấn nghĩa là chỉ. Vật lí không giống gì là tuyệt đối chỉ. Hễ đã chỉ tất có lúc tiến, chỉ mà nảy ra cũng là tiến.

Vậy nên sau quẻ Cấn tiếp lấy quẻ Tiệm. Tiệm nghĩa là tiến lên, nhưng tiến lên tất phải tiến lên lần lần, tất phải có thứ tự nên đặt tên quẻ bằng Tiệm. Quẻ này trên Tốn, dưới Cấn, tượng là trên núi có cây. Vật lí tiến lần lần mà có thứ tự rất rõ ràng dễ thấy, không gì rõ bằng cây ở trên núi. Vì tượng như thế nên tên quẻ đặt bằng Tiệm. SOÁN TỪ Tiệm, nữ quy, cát, lị trinh. Thông lệ trong Dịch, hễ các lời quẻ, có khi tùy mỗi thì, có khi tùy mỗi việc, có khi nói chung cả nghĩa quẻ, có khi nói riêng một nghĩa trong quẻ.

Còn như quẻ Tiệm là nói riêng một nghĩa trong quẻ. Theo về tượng quẻ, Cấn chỉ ở dưới, Tốn thuận ở trên, có ý là tiến mà không vội tiến. Việc trong thiên hạ tuy cũng có việc đáng tiến mau, nhân vì cơ hội đã tới nơi, hoặc vì hoàn cảnh xui giục, như những việc hành binh, việc thông tin cũng không thể nhất luật là tiệm mới được. Duy một việc gả con gái lấy chồng đi về nhà chồng, tất phải tiến có thứ tự mà không tiến gấp được; nên Quái từ nói rằng: Tiệm, nữ quy cát, nghĩa là con gái theo chồng mà làm một cách bằng tiệm thời được cát.

Bởi vì đạo của quân tử, tạo đoan hồ phu phụ nên bắt đầu phải thẩm thận thung dung mà về phần riêng con gái, lại càng nên tiệm tiến lắm. Nữ quy mà đúng với cách tiệm tiến thời con gái ấy mới là trinh chính, được như thế mới là thuận lị, nên Quái từ nói rằng: Lị trinh. Nói trái lại, nếu bất trinh thời bất cát. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Tiệm chi tiến dã, nữ quy cát dã. Tiến đắc vị, vãng hữu công dã; tiến dĩ chính, khả dĩ chính bang dã. Kì vị cương đắc trung dã. Chỉ nhi tốn, động bất cùng dã.

Soán viết: Tiệm chi tiến dã, nữ quy cát dã. Cách tiến lên mà tiệm tiến như quẻ Tiệm dùng vào việc nữ quy tất nhiên được cát. Tiến đắc vị, vãng hữu công dã; tiến dĩ chính, khả dĩ chính bang dã. Theo ở thể quẻ thời bốn hào ở giữa quẻ âm, dương tất thảy ở vào vị chính, suy vào nhân sự, hễ tiến lên mà đúng được chính vị như thế, tất nhiên đi lên mà có công vậy. Bởi vì lấy đạo chính mà tiến chẳng những chính được thân gia mà thôi, lại có thể chính được một nước.

Kì vị cương đắc trung dã. Đây lại nói riêng về Cửu Ngũ: Cửu Ngũ vẫn dương cương đắc trung mà lại ở vào vị Ngũ là vị chí tôn trong quẻ, Tiệm như thế thời chắc là hữu công và chính bang được. Chỉ nhi tốn, động bất cùng dã. Lại theo về đức quẻ, Nội cấn chỉ là có đức an tĩnh, Ngoại Tốn thuận là có đức hòa thuận, người ta tiến lên làm việc đời, an tĩnh mà không táo, hòa thuận mà không nghịch. Thế là rất đúng với nghĩa: Tiệm tiến, chắc là tiến động mà không vấp lấy khốn cùng.

Tượng viết: Sơn thượng hữu mộc, Tiệm. Quân tử dĩ cư hiền đức, thiện tục. Cấn là sơn, Tốn là mộc; trên núi có cây, từ dưới thấp lần lần lên cao, đó là tượng quẻ Tiệm. Quân tử xem tượng ấy, lấy cách Tiệm mà tu thân thời chứa trữ đức hiền: từ lúc làm sĩ mà bắt chước hiền, từ lúc làm hiền mà bắt chước thánh, khi đã nên thánh thời bắt chước cho đến thiên. Lại lấy cách Tiệm mà dạy người: dầu từ trong một nhà, một họ, lại dần dần hóa đến một nước, một xã hội, dầm nhân thấm nghĩa, tích lũy hàng năm, hàng đời, mới cách được tục hủ xưa, gây nên nền tốt mới, như thế là dùng đạo Tiệm mà cư hiền đức, thiện tục.

Cư nghĩa là chứa trữ; cư hiển đức là chứa lũy đức hiền dần lên tới cao. Chữ thiện là động từ, tích lũy công phu dạy dỗ cho thiện được phong tục, dần lên đến cực điểm. Đó là cách Tiệm của quân tử. Cư hiền đức là đức Tiệm ở nhất thân, thiện tục là đức Tiệm đến thiên hạ

Sáu Hào Của Quẻ Phong Sơn Tiệm

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初六:鴻漸于干,小子厲,有言,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Hồng tiệm vu can, tiểu tử lệ, hữu ngôn, vô cựu. Hồng là một giống chim ở mặt nước, tính nó qua lại thường có mùa nhất định, mùa nóng thời nó bay qua Bắc, mùa lạnh thời nó bay qua Nam, bay thường kết bầy, con lớn bay trước, con bé bay sau, rất có thứ tự. Đúng vào nghĩa quẻ Tiệm nên sáu hào thảy thủ tượng bằng chim hồng. Sơ Lục ở vị Sơ là ở dưới hết quẻ, bản chất âm nhu là tài rất yếu. vả lại ở trên không có bạn ứng viện. Ở vào thì Tiệm mà tiến chỉ như thế, chắc không tiến được bao lăm, tượng như chim hồng vừa chỉ tiến đến bến nước ( Can là bến sông).

Nếu những bậc đại nhân quân tử xử vào địa vị ấy, hiểu lí thức thì, xem làm một việc đương nhiên, chưa tiến được thời an lặng cũng là thích. Duy bọn tiểu nhân lũ bé, chỉ thấy ở sự thực mà không hiểu đến thì nghĩa nên lấy làm nguy cụ mà có giọng than thế. Tuy vậy mặc lòng, nhưng không việc gì trái với nghĩa Tiệm nên nói rằng: Vô cựu, nghĩa là tiến không được mau, nhưng vẫn không tội lỗi. Tượng viết: Tiểu tử chi lệ nghĩa vô cựu dã. Tuy tiểu tử họ có lấy làm nguy lệ, nhưng theo về nghĩa thì Tiệm thời ở Sơ mà vẫn chưa tiến được vẫn không tội lỗi gì

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:鴻漸于磐,飲食衎衎,吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực hãn hãn, cát. Lục Nhị cư trung đắc chính, ở trên có hào Ngũ ứng với mình, tiến được một cách rất bình ổn thong thả, tượng như chim hồng đã xa khỏi bến nước mà lên đậu ở hòn đá lớn, thung dung tự đắc, có tượng là ăn uống thảnh thơi ( Hãn hãn có nghĩa hòa vui). Như thế thời cát. Tượng viết: Ẩm thực hãn hãn, bất tố bão dã. Hào từ nói rằng: Ẩm thực hãn hãn, thiệt xử một hoàn cảnh rất an bình. Theo về mắt thế tục, thiệt chỉ xem làm đắc thì sung sướng mà thôi, nhưng lòng quân tử há phải thế đâu.

Lấy đạo trung chính của bản thân mình mà giúp đỡ mọi người ở trên mình, chứ không muốn ăn suông mà không làm việc gì. ( Tố nghĩa là không, không làm việc mà ăn no, tức là tố bão, cũng như: bất tố xan hề ở Kinh Thi)

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:鴻漸于陸,夫征不復,婦孕不育,凶;利禦寇。

Phan Bội Châu chú giải:

Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung, lị ngự khấu. Cửu Tam ở trên Hạ Quái là Tiệm đã đến vị khá cao, tượng như chim hồng đã tiến đến đất bằng. Hồng là chim ở nước, bây giờ tiến đến đất bằng, tuy có tiến lên, nhưng không lấy gì làm thích lắm, huống gì ở vào thì Tiệm mà Tam lại là tính chất dương cương, chắc muốn tiến hoài mà không biết ngó cổ lại. Như thế là phu chinh bất phục ( Phu là chỉ vào bản thân Tam: chinh nghĩa là đi; bất phục nghĩa là không quay trở lại).

Lục Tứ âm nhu ở trên, thân cận với Tam, toan dắt Tam lên, nhưng Tam, Tứ thảy là bất trung, lại không phải chính ứng với nhau. Bây giờ lấy một cách bất chính mà cẩu hợp, tất nhiên kết quả không ra gì, tượng như phụ dựng bất dục (Phụ là chỉ vào Tứ; dựng nghĩa là có thai; dục nghĩa là nuôi được con). Tứ với Tam kết hợp nhau cũng như thế, kết quả là xấu mà thôi. Một người làm phu mà chinh bất phục; một người làm phụ mà dựng bất dục, giao hợp với nhau bằng cách bất chính, có khác gì trộm cướp nữa đâu, nên gọi bằng khấu.

Bây giờ nghĩ một phương pháp thiện hậu cho Tam: Chỉ nên quay lại đường chính mà cản ngự món tà. Như thế là hay biết ngự khấu thời còn lị. Tượng viết: Phu chinh bất phục, li quần, xú dã; phụ dựng bất dục, thất kì đạo dã; lị dựng ngự khấu, thuận tương bảo dã. ;. Phu chinh bất phục nghĩa là cứ theo ý riêng mình mà bỏ mất bầy bạn tốt, thiệt là xấu vậy. Phụ dựng bất dục là vì trái mất đạo chính vậy; lị dựng ngự khấu là hai bên phải thuận theo đạo chính để mà giữ gìn cho nhau vậy

Hào 4 — Lục Tứ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六四:鴻漸于木,或得其桷,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kì giốc, vô cựu. Lục Tứ này bản chất âm nhu, tiến lên mà ở trên hào dương cương. Tứ ở trên Tam vẫn không phải chốn ngồi an ổn được, tượng như chim hồng bay lên đậu ở cây cao. Hồng là chim ở nước mà lên đậu ở cây cao, vẫn không được an, nhưng may được nhánh bằng mà đậu. Giốc nghĩa là nhánh bằng ngang, cây vẫn không phải chốn hồng đậu, nhưng hoặc được nhánh bằng mà đậu, cũng vô cựu. Bởi vì Tứ cư chính mà lại tốn thuận, có lẽ ở cao mà không nguy nên tỉ dụ bằng đắc kì gìốc.

Tượng viết: Hoặc đắc kì giốc, thuận dĩ tốn dã. Giốc là chốn đậu được bình an, Lục Tứ mà có tượng đắc giốc là chỉ vì thuận bằng cách Tốn thời có lẽ cũng bình an được

Hào 5 — Cửu Ngũ

Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

九五:鴻漸于陵,婦三歲不孕,終莫之勝,吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng, chung mạc chi thắng, cát. Ở trong thì Tiệm, Cửu Ngũ được xử vào địa vị tối cao, mà lại chính ứng là Lục Nhị. Nhị, Ngũ tuy muốn giao hợp với nhau, nhưng mà Tam có ý ngăn đón Nhị, Tứ có ý ngăn đón Ngũ nên giao tình Nhị, Ngũ chưa được kết quả vuông tròn, tượng như cưới vợ ba năm mà chẳng thấy công sinh dục. Phụ là chỉ hào Nhị, Nhị chưa kết hợp được Ngũ nên ba năm mà chưa thấy chửa nghén. Tuy nhiên, Tam, Tứ rặt là bọn bất chính, không thể địch nổi Nhị, Ngũ.

Nhị, Ngũ là bạn trung chính, chẳng qua bị ngăn đón bấy lâu mà thôi, cuối cùng thời bọn nó phải thua Nhị, Ngũ. Nhị, Ngũ kết quả hợp nhau mà thành được công nghiệp tiệm tiến nên nói rằng: Chung mạc chi thắng, cát. Mạc chi thắng nghĩa là Tam, Tứ phải chịu thua. PHỤ CHÚ: Theo về thể quẻ, Ngoại Tốn là Nữ, Nội Cấn là Nam. Theo về nghĩa hào, Ngũ ở quẻ trên là chồng, Nhị ở quẻ dưới là vợ. Lí Dịch thường biến dịch như thế. Tượng viết: Chung mạc chi thắng, cát, đắc sở nguyện dã. Nhị, Ngũ trung chính, thanh ứng khí cầu, hai bên biết hợp nhau, vẫn là sở nguyện.

Tuy trung gian bị Tam, Tứ gián cách, nhưng tà bất thắng chính. Nhị, Ngũ thỉ tuy li mà chung tất hiệp, kết quả thời Tam, Tứ phải chịu thua mà sở nguyện Cửu Nhị, Ngũ hoàn toàn viên mãn

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:鴻漸于陸,其羽可用為儀,吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Hồng tiệm vu quì, kì vũ khả dụng vi nghi, cát. Quì nghĩa là đường mây mà chốn ở giữa hư không, người ta thường bảo là vân lộ. Theo như thường lệ, hào vị trong một quẻ thảy đến hào Ngũ là rất tôn, đến hào Thượng lại địa vị cao hơn hào Ngũ, té ra cao nhi vô vị, tượng như chim hồng bay tới tuốt đường mây mà không chốn đậu. Nếu ở thì khác là vô dụng, nhưng thì Tiệm thời tiến đến cực cao cũng không phải là vô dụng, chính là một hạng người siêu nhiên xuất thế, không làm việc nhân gian, nhưng mà cao tiết thanh phong, nêu một cái gương cao thượng cho người đời, tượng như chim hồng tuy ở trên mây vẫn không làm bạn với những món chim lồng mà cái lông nó rơi ra còn dùng làm được những đồ hành nghi.

Vũ nghĩa là lông chim; nghi là cái đồ dùng làm cờ quạt; vi nghi là tỉ dụ bằng thanh giá của Thượng Cửu. PHỤ CHÚ: Thượng Cửu là một hạng người không sụp vào lưới đời, duy có cao danh kì khí lưu ở nhân gian. Tỉ như Ồng Phạm Viên ở nước ta, ông Thái Qua Nhĩ ở nước Ấn Độ, một người thời lấy cách thần tiên mà khinh miệt cả vương hầu, một người thời lấy phẩm thanh thơ mà tiêu giao khắp Âu, Á, thiệt là chim hồng bay ở đường mây mà lông rơi còn dùng được làm nghi biểu đó vậy.

Tượng viết: Kì vũ khả dụng vi nghi, cát, bất khả loạn dã. Hào từ Thượng Cửu là nói một hạng người tiến lên đến cực cao, đứng ra người địa vị của thế tục, mặc dầu khóa lị xiềng danh không giống gì rối loạn được chí của người ấy, nên Hào từ tán cho rằng: Kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát. PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc quẻ Tiệm mà biết rằng: Chữ thì trong Dịch, thiệt là quán thỉ quán chung; chữ Tiệm là thì chung của Toàn quẻ, tức là thì chung của một xã hội, sáu hào là thì riêng của mỗi hào, tức là thì riêng của mỗi người trong xã hội ấy.

Vì thời đại riêng khác nhau nên Hào từ trong sáu hào, tằng thứ tiệm có trước sau, thang bực tiệm có cao thấp. Sơ vì địa vị quá thấp nên tiệm vu can. Nhị vì địa vị đã nhích lên mà tài lại trung chính nên tiệm vu bàn. Tam vì địa vị bán thượng lạc hạ nên tiệm tuy khá cao mà không được an vị nên tiệm vu lục; Tứ địa vị cũng như Tam, mà tài lại thua Tam, sở xử còn đương bấp bỏng nên tiệm vu mộc mà lại nói hoặc đắc kì giốc. Chữ hoặc đắc ở đây in như chữ hoặc được ở hào Tứ quẻ Càn.

Hoặc dược thời mong tiến mà chưa chắc đã tiến. Hoặc đắc thời mong được mà chưa chắc đã được, chỉ vì thì còn ở chốn nguy nghi mà phải như thế. Đến Cửu Ngũ thời địa vị vừa đắc trung vừa đắc chính mà lại gặp lúc thì Tiệm đã tối cao nên tiệm vu lăng mà chung đắc sở nguyện. Đến Thượng Cửu là thì Tiệm đã đạt tới cực điểm, thiệt là cánh hồng bay bổng tuyệt vời nên tiệm vu quì mà vũ khả dụng vi nghi. Tổng chi, sáu hào thảy là hồng cả, thảy ở vào thì Tiệm cả, nhưng vì thì riêng của mỗi hào khác nhau mà can, bàn, lục, mộc, lăng, quì cũng khác nhau mỗi hào mỗi vị trí.

Đó chính là diệu dụng của chữ thì, in như sáu hào quẻ Càn tổng chi là long cả, vì thì riêng của mỗi hào khác nhau mà tiềm, hiện, dược, phi, kháng cũng khác nhau. Nói tóm lại, thì là một vị thánh sư dạy cho ta làm việc mà cũng là cỗ xe tốt đẩy cho ta lên đường. Nếu thì chưa tới, dầu tài đức đến thế nào, cũng khó trước thì mà làm gắng. Thì nếu đã qua thời dầu phách lực đến thế nào cũng khó sau thì mà kéo lại. Vậy nên, chúng ta muốn làm sự nghiệp tạo thì, cần thứ nhất là trước phải có cặp mắt xem thì, mà thì chung với thì riêng lại cần cân nhắc lắm.

Nếu thì chung với thì riêng đã rập với nhau, dám chắc trong thiên hạ không việc gì khó

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Phong Sơn Tiệm là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Phong Sơn Tiệm Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 53 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Phong Sơn Tiệm Là Gì?

Thượng quái là Tốn, tượng gió; hạ quái là Cấn, tượng núi. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 漸: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Phong Sơn Tiệm. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 52: Thuần Cấn · Quẻ 54: Lôi Trạch Quy Muội

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline