Quẻ Thuần Cấn: Dừng Đúng Lúc, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Thuần Cấn số 52: Cấn trên, Cấn dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Thuần Cấn (艮) là quẻ số 52 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Cấn (núi), hạ quái là Cấn (núi). Cấn nói về dừng. Lời Thoán phân biệt lúc nên dừng với lúc nên đi; vì vậy quẻ không dạy bất động trong mọi tình thế mà xét sự đúng thời của động và tĩnh.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Thuần Cấn Là Gì?

Số thứ tự 52/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Thuần Cấn — 艮
Thượng quái Cấn — Núi
Hạ quái Cấn — Núi
Hào dương 2
Hào âm 4

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Cấn, ba hào sau tạo thượng quái Cấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thuần Cấn

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

艮:艮其背,不獲其身,行其庭,不見其人,无咎。

Nguyên Văn Thoán Truyện

艮,止也。時止則止,時行則行,動靜不失其時,其道光明。艮其止,止其所也。上下敵應,不相與也。是以不獲其身,行其庭不見其人,无咎也。

Nguyên Văn Đại Tượng

兼山,艮;君子以思不出其位。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Cấn trên; Cấn dưới Quẻ này là quẻ Bát Thuần Cấn. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Trên dưới trong ngoài thảy là Cấn, nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Cân. TỰ QUÁI Tự quái: Chấn giả động dã, vật bất khả dĩ chung động, chỉ chi, cố thụ chi dĩ Cấn. Cấn giả chỉ dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Chấn tiếp lấy quẻ Cấn là vì cớ sao? Trên đây là quẻ Chấn, Chấn nghĩa là động, vật lí không lẽ cứ động hoài, động đã cực tất nhiên phải chỉ.Vậy nên sau quẻ Chấn tiếp lấy quẻ Cấn.

Cấn nghĩa là chỉ. Lại Cấn có tượng là núi, núi là giống chỉ đứng yên một chốn, lặng mà chỉ, thành ra nghĩa Cấn. Nguyên quẻ gốc là quẻ Khôn, vì nét thứ ba gốc ở quẻ Càn, đổi vào cho Khôn, nét âm thứ ba biến mà làm ra dương, thành ra quẻ Cấn, một nét dương ở trên hai nét âm, dương tiến đến cùng thời phải chỉ, hai âm ở dưới vẫn cứ lặng, thế là trên chỉ mà dưới lặng nên đặt tên quẻ bằng Cấn. SOÁN TỪ Cấn kì bối, bất hoạch kì thân, hành kì đình, bất kiến kì nhân, vô cựu.

Quái từ đây hoàn toàn thuộc về triết lí, bây giờ hãy chi theo mặt chữ mà thích nghĩa đen thời như thế này: Cấn nghĩa là chỉ; chỉ ở phía lưng, không thấy được thân mình, đi ở trước mặt sân, không thấy có người ta. Như thế thời vô cựu. Thích nghĩa den như vậy, thiệt không thấy gì hay. Chúng ta muốn hiểu cho ra ý Quái từ, trước hãy nhận cho ra nghĩa chữ bối. Bối vẫn là lưng, nhưng vì sao lại nói chỉ ở nơi lưng? (Chữ chỉ đây nên học như chữ chỉ ở câu chỉ ư chí thiện ở sách Đại Học.

Chí thiện nghĩa là rất lành kia). Bởi vì tâm chí của người ta, hễ tĩnh thời không có ác cơ mà động thời có ác cơ. Tức như, toàn thể không thân mình, tai mắt miệng mũi tay chân rặt là giống hay động. Động vì tình dục mà sinh ra làm ác là chỉ vì các giống hữu cơ thể, duy cái lưng thường có tính tĩnh luôn. Vì nó tĩnh luôn nên không động cơ làm ác, nó đã không làm ác, tức là chí thiện. Bây giờ lấy cái lưng mà hình dung lẽ rất lành, ấy là cấn kì bối.

Ý tứ ba chữ cấn kì bối đã minh bạch như thế, mới có thể giảng xuống ba câu dưới được. Người ta sở dĩ sinh ra lòng tư dục mà nảy nở ra vô số ác cơ chỉ vì trong óc nghĩ với trong mắt thấy chia hẳn ra giới hạn ta với người; vì giới hạn ta với người mới đẻ ra lòng tự tư tự lợi, đã sinh lòng tự tư tự lợi thời làm sao mà được chỉ ở chí thiện nữa rư? Duy bậc thánh nhân quân tử, trong óc và trong con mắt chỉ thấy có đạo rất lành mà thôi, trong quên được mình mà không thấy mình ở đâu, như thế là bất hoạch kì thân.

Ở trong đã quên được mình mà ở ngoài cũng quên cả người mà không thấy người ở đâu, ấy là hành kì đình, bất kiến kì nhân. Đã nói rằng: Bất hoạch kì thân, thế là ngã không thấy là ngã mà còn tự tư tự lợi vào đâu. Đã nói rằng: Bất kiến kì nhân, thế là nhân không thấy là nhân mà còn cầu danh dự mua cảm tình vào đâu, có như thế, mới là vật ngã lưỡng vong, chỉ có nhất khối thiên lí nên “chỉ ư chí thiện” được. Nói tóm lại, Quái từ chú trọng nhất chỉ là câu cấn kì bối.

Mà sở dĩ cấn kì bối được, tất trước phải có tinh thần như hai câu ở dưới. Bất hoạch kì thân là một câu bảo cho mình quên được mình; hành kí đình, bất kiến kì nhân là câu bảo cho mình quên cả người. Bảo ràng “quên”, há phải là tuyệt đối quên cả mình, quên cả người đâu, chỉ là thấy lẽ phải thời làm mà tuyệt nhiên không giới hạn mình với người. Nói tát lại, bốn chữ “vong ngã vong nhân” là vừa hết ý nghĩa. PHỤ CHÚ: Ba chữ “Hành kì đình” không quan trọng gì, vì đối với chữ “kì thân” thời thân là nội mà nhân là ngoại, muốn thay chữ ngoại mà phải dùng chữ đình.

Đình là chốn trước sân là chốn rất gần, người ở chốn rất gần mà còn không thấy, huống gì năm châu bốn bể mà còn thấy người là người rư? Triết học ở Đông phương rất cao là Phật học, kinh Kim Cang có câu: Vô ngã tướng, vô nhân tướng. Chữ “tướng” ở kinh Phật, tức là chữ “hoạch”, chữ “kiến” ở Kinh Dịch. Vì phân biệt ra hình sắc ngã nên hoạch kì thân, bây giờ vô ngã tướng, tức là bất hoạch kì thân. Vì phân biệt ra hình sắc nhân nên kiến kì nhân, bây giờ vô nhân tướng, tức là bất kiến kì nhân.

Văn tự tuy có khác nhau chút đỉnh, nhưng nghiên cứu cho đến ý nghĩa thời Phật, Dịch chỉ là nhất lí. Tây phương tông giáo như ông Jésus có câu ái nhân như kỉ, nhưng còn chia giới hạn Nhân với Kỉ mà phải dùng đến chữ Như. Thế là là còn thua Phật với Dịch xa lắm. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Cấn, chỉ dã. Thì chỉ tắc chỉ, thì hành tắc hành, động tĩnh bất thất kì thì, kì đạo quang minh. Cấn kì chỉ, chỉ kì sở dã. Thượng hạ địch ứng, bất tương dữ dã. Thị dĩ bất hoạch kì thân, hành kì đình, bất kiến kì nhân, vô cựu dã.

Soán viết: Cấn, chỉ dã. Thì chỉ tác chỉ, thì hành tắc hành, động tĩnh bất thất kì thì, kì đạo quang minh. Đây là thích tên quẻ, nhưng lại phát minh ra nghĩa ngoài tên quẻ. Tên quẻ thời chỉ có Cấn là chỉ mà thôi, nhưng Soán Truyện lại thêm ý vào. Chỉ tất phải có hành, nhưng cốt cho đúng với thì: Thì nên an lặng thì an lặng, thì nên hành động thời hành động. Hành, chỉ, động, tĩnh tuy có khác nhau, nhưng tất thảy, đúng với thì mà không trái với thì nghĩa. Như thế thời đạo Cấn mới quang minh được.

PHỤ CHÚ: Thì chỉ mà chỉ, vẫn là chỉ; thì hành mà hành cũng là chỉ. Bởi vì hợp với thì nghĩa, tức là rất lành mà lại chỉ ở chí thiện. Chữ chỉ nguyên có hai nghĩa: Một nghĩa chỉ là an lặng là nghĩa hẹp; một nghĩa chỉ là chỉ vừa đúng chốn là chữ chỉ nghĩa rộng. Hành mà vừa đúng chốn chỉ cũng gọi bằng chỉ. Cấn kì chỉ, chỉ kì sở dã. Chữ “Chỉ kì sở” đây là thích nghĩa chữ “cấn kì bối” ở trên Quái từ ( Kì sở nghĩa là vừa đúng chốn). Chỉ cho vừa đúng chốn là nghĩa chữ Cấn kì chỉ.

Đạo lí trong thiên hạ, sự gì vật gì đúng được nguyên chốn của nó gọi bằng kì sở, tỉ như: Vi nhân quân mà chỉ ư nhân, nhân là kì sở; dữ quốc nhân giao mà chỉ ư tín, tín là kì sở. Suy cho đến rất nhỏ, con chim mà thả nó lên rừng, rừng tức là kì sở; con cá mà thả nó xuống biển, biển tức là kì sở. Hễ giống gì việc gì tất có sở của giống ấy, việc ấy, ta cứ khiến cho nó vừa đúng kì sở thời cần gì có nhân ngã nội ngoại nữa đâu.

Nên hạ văn lại thích luôn cho rõ nghĩa Quái từ. Thượng hạ địch ứng, bất tương dữ dã. Thị dĩ bất hoạch kì thân, hành kì đình, bất kiến kì nhân, vô cựu dã. Theo như thể quẻ, tuy vẫn có hai thể trên dưới, nhưng trên vẫn là Cấn mà dưới cũng là Cấn, trên dưới cân địch mà ứng với nhau, nhị thể in như nhất thể, không bỉ thử tương đối. Vậy nên, trong thời không thấy mình khác người mà biết là mình, ngoài thời không thấy người khác mình mà biết là người. Trong ngoài quên cả hai bên, nhân ngã chỉ là nhất thể, nên nói rằng: Bất hoạch kì thân, hành kì đình, bất kiến kì nhân, vô cựu.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Kiêm sơn, Cấn. Quân tử dĩ ti bất xuất kì vị. Trên Cấn là sơn, dưới Cấn cũng là sơn, gồm cả hai thể sơn, gọi bằng Cấn. Cấn, tượng là chỉ, quân tử xem tượng ấy mà nghĩ một cách chỉ. Hễ những tư tưởng gì không ra khỏi vị nó. Tỉ như, phận làm người thời lo làm sao cho đúng phận một con người mà chớ trật ra ngoài phận làm người. Như thế là tư bất xuất kì vị ( Vị nghĩa là ngôi, cũng có nghĩa là phận; tư nghĩa là lo nghĩ, lo nghĩ cho vừa đúng bổn phận).

Năm chữ “tư bất xuất kì vị” giảng sơ qua thiệt rất tầm thường, giảng cho kĩ thời ý nghĩa rất cao xa. Tỉ như làm vua lo cho đúng bổn phận làm vua; làm tôi lo cho đúng bổn phận làm tôi; làm quốc dân lo cho đúng bổn phận làm quốc dân. Tư làm sao cho đúng kì vị, thế là vừa hết đạo làm người. Xưa tiên hiền có câu: Việc trong vũ trụ, tất thảy là làm việc trong bổn phận người. Chữ phận nội tức là nghĩa chữ vị ở đây, người ta thường nhận lầm chữ vị bằng chức vị, tước vị thời lầm lỗi quá lớn.

Vì chốn lầm lỗi đó mà bỏ hết bổn phận làm người, chỉ bo bo ở nơi tước vị, chức vị mà thôi. Ôi! Trời vị ở trên, đất vị ở dưới, người thành vị ở giữa, có gì quý trọng hơn vị làm người nữa rư? Vậy nên Dịch nói rằng: Quân tử tư bất xuất kì vị. Xuất nghĩa là trật ra ngoài. Tư bất xuất kì vị nghĩa là nghĩ làm sao cho đừng trật ra ngoài vị

Sáu Hào Của Quẻ Thuần Cấn

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Lục

Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初六:艮其趾,无咎,利永貞。

Phan Bội Châu chú giải:

Cấn kì chỉ, vô cựu, lị vĩnh trinh. Sơ Lục ở dưới hết quẻ Cấn, tượng như ngón chân. Người ta đứng dậy đi, tất trước động ngón chân. Sơ Lục bắt đầu vào thì cấn, chính là động chi, Sơ mà biết cẩn thận hay chỉ, ấy là cấn kì chỉ, nghĩa là: Lúc đầu thoạt ra động mà đã biết chỉ ngay. Thế thời được vô cựu, nhưng mà nghĩa ở thì Cấn, cốt nên chỉ mà chỉ, tất phải thường kiên cố lâu dài, hữu thỉ hữu chung, không bao giờ mắc lỗi táo động; như thế, mới được hoàn toàn mỹ mãn, nên Hào từ lại răn rằng: Lị vĩnh trinh.

Vĩnh trinh nghĩa là thường lâu bền chính. Tượng viết: Cấn kì chỉ, vị thất chính dã. Chỉ hư lúc đầu, tượng như chỉ ở ngón chân, thời không đến noi sai mất chính đạo vậy. Vì Lục cư Sơ có nghi là thất chính nên Tượng từ răn cho như thế

Hào 2 — Lục Nhị

Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六二:艮其腓,不拯其隨,其心不快。

Phan Bội Châu chú giải:

Cấn kì phì, bất chửng kì tùy, kì tâm bất khoái. Lục Nhị cư trung đắc chính, vẫn là hạng người đúng được đạo chỉ, nhưng chỉ vì trên không người ứng viện. Nhị lại ở dưới Cửu Tam, Tam dương cương bất trung mà lại có quyền hạn chế được Nhị; Nhị đã không sức hạn chế được Tam thế tất phải thuận theo với Tam, thành ra Nhị tượng như bắp chân, chỉ theo vào về chấn mà động nên nói rằng: Cấn kì phì, nghĩa là chỉ bằng một cách cáì bắp chân. Tam có quyền chỉ được mình mà mình thời không sức chỉ được Tam, dầu có biết Tam lầm lỗi mà không thể chữa được, té ra Nhị chỉ một kẻ tùy mà thôi, nên nói rằng: Bất chửng kì tùy.

Nhị đã là một người tùy với Tam nên trong lòng Nhị không lấy gì làm vui thích. PHỤ CHÚ: Hào từ này in như việc thầy Mạnh với Tề Tuyên Vương. Vương nói hiếu sắc, thầy cũng chiều mà nói Thái Vương hiếu sắc. Vương nói hiếu hóa, thầy cũng chiều mà nói Công lưu hiếu hóa. Há thầy không muốn chửng cứu Tể Vương đâu, nhưng kết quả Tề Vương không biết nghe lời, thầy phải bỏ nước Tề mà đi, ấy là bất chửng kì tùy, kì tâm bất khoái. Tượng viết: Bất chửng kì tùy, vị thối thính dã. Lục Nhị tùy với Cửu Tam mà không cứu chửng được Lục Tam nhưng há phải tội tại Nhị đâu, chỉ vì Tam ở trên mà chẳng chịu lui xuống nghe Nhị đó vậy

Hào 3 — Cửu Tam

Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九三:艮其限,裂(一作列)其夤,厲閽(一作薰)心。

Phan Bội Châu chú giải:

Cấn kì hạn, liệt kì dần, lệ huân tâm. Cửu Tam ở trên hết Nội Quái làm chủ quẻ cấn, xử vào địa vị trung đoạn. Theo về thể người, chính là đương ở chốn yêu hạn ( Hạn là vừa khoảng phân cách trên dưới, tục ta gọi bằng lưng quần). Cửu Tam dương cương bất trung mà ở vào chốn hạn, chỉ vào chốn phân cách trên dưới. Như thế thời tiến lên mà kẻ trên không nghe, lui xuống mà kẻ dưới không phục, in như một người mắc bệnh quan cách, đứt ngang ở giữa xương sống, nguy khốn biết chừng nào, e đến nỗi buồn bã âu sầu mà lo đến nỗi cháy cả ruột, nên nói rằng: Cấn kì hạn, liệt kì dần lệ, huân tâm.

Dần nghĩa là xương sống vừa ngang lưng; liệt nghĩa là chia xé; huân nghĩa là un đốt; chia xé xương sống nguy đến nỗi cháy cả ruột. Hình dung tình hình của Tam: mất lòng trên, dưới nên nỗi kết quả nguy khốn như thế. Tượng viết: Cấn kì hạn, nguy, huân tâm dã. Cấn bằng một cách hạn tuyệt trên dưới, kết quả chỉ nguy cháy lòng mà thôi

Hào 4 — Lục Tứ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六四:艮其身,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Cấn kì thân, vô cựu. Lục Tứ: bắt đầu vào Thượng Quái, ở về đoạn giữa quẻ là vừa đúng với thân người. Lục cư Tứ là đắc chính, ở vào thì Cấn nên biết chỉ mà chỉ, chỉ vừa đúng chốn chỉ, tượng như Cấn kì thân. Vì Hào từ ở đoạn giữa nên thủ tượng bằng thân, thân đã chỉ được đúng, tuy không công nghiệp gì lớn, nhưng cũng khỏi tội lỗi. PHỤ CHÚ: Chữ “cấn kì thân” ở đây, cũng tương tự như “cấn kì bối” ở Quái từ, duy Quái từ thời bất hoạch kì thân là quên được cả mình.

Lục Tứ thời chỉ cấn kì thân là còn biết có mình, khác nhau chỉ hai chữ mà giới hạn thánh với phàm rất xa; đọc Dịch nên biết ý ấy. Tượng viết: Cấn kì thân, chỉ chư cung dã. Cung nghĩa là bản thân riêng của mình. Lục Tứ Cấn thân là hay chỉ được giữa bản thân mà không công nghiệp gì đến ai, nên Tượng Truyện nói rằng chỉ chư cung dã. Chữ chư cũng như nghĩa chữ ư, thay chữ kì cũng là đại danh từ. Ba chữ “chỉ chư cung” là nói Lục Tứ tự mình chỉ lấy mình mà không vì ai hạn chế

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:艮其輔,言有孚(一作序),悔亡。

Phan Bội Châu chú giải:

Cấn kì phụ, ngôn hữu tự, hối vong. Lục Ngũ ở giữa quẻ trên. Theo thể người thời hào Thượng ở trên đầu, hào Ngũ chính dương vào chốn miệng mép nên nói rằng: Cấn kì phụ. Phụ là mép ở bên miệng. cấn kì phụ nghĩa là miệng mép không khinh dị nói phô, dầu có khi nói, nhưng nói có thứ tự, việc đáng nói mới nói, việc gì chưa đáng nói thời không nói. Ngôn hữu tự như thế, tất được hối vong. Tượng viết: Cấn kì phụ, dĩ trung chính dã. Lục Ngũ chỉ ở miệng mép. Nếu chưa nói, nói tất nhiên hay là vì Ngũ có đức trung vậy.

PHỤ CHÚ: Đức Khổng Tử nói rằng: Người có đức tất có lời nói hay, người chỉ có lời nói, không chắc là người có đức. Xưa vua Cao Tôn ba năm không nói, đến khi nói một lời thời bốn bể thảy tín ngưỡng. Tề Uy Vương ba năm không gáy, đến khi gáy một tiếng mà nước Tề chấn kinh. Đó chinh là ngôn hữu tự mà hối vong như hào này vậy

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:敦艮,吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Đôn cấn, cát. Thượng Cửu ở cuối cùng quẻ Cấn là Cấn chi chung, chỉ chi cực, vả lại bản thân Thượng Cửu có đức dương cương, có tính đốc thực mà làm chủ cho quẻ Cấn, thiệt là người đức thịnh nết dày, chỉ ở rất lành nên được cát nên Hào từ nói rằng: Đôn cấn, cát. Đôn nghĩa là dày dặn, dày dặn ở đạo Cấn, có gì tốt hơn. Người ta ở đời quý trọng nhất chữ hậu, bao nhiêu người phù hiệu, dầu làm việc nhỏ có hay chăng. Nếu gánh nặng mang lớn, tất cần phải có người trọng hậu.

Sử Tàu như Chu Bột phò Hán Cao Đế, Hoắc Quang phò Chiêu Đế. Sử ta như Trần Hưng Đạo, Lê Cương Quốc Công (Nguyễn Xí) thảy là người trọng hậu rất mực mà làm nên sự nghiệp to lớn. Xem suốt sử Đông, Tây, chẳng một người nào khinh táo phụ bạc mà làm nên việc lớn. Thế mới biết: Đôn cấn cát, vẫn là sự thiệt. Xem Tượng Truyện lại càng rõ lắm. Tượng viết: Đôn cấn chi cát, dĩ hậu trung dã. Sáu hào quẻ Cấn, duy đến hào Thượng Cửu đôn cấn, mới được chữ cát. Bởi vì việc thiên hạ tất có hoàn toàn đến lúc chung mới là cát, tất phải dày dặn cho đến lúc chung mới là hữu chung, lấy đức hậu mà hữu chung nên được cát.

PHỤ CHÚ: Đọc Dịch đến Quái từ quẻ Cấn là quẻ rất tốt. Đọc Hào từ quẻ Cấn, đến Hào từ Thượng Cửu thiệt là hào rất tốt. Cấn là tượng bằng núi, núi là một giống rất trọng hậu. Người có đức trọng hậu, còn gì tốt hơn. Lời Soán Truyện nói rằng: Động tĩnh bất thất kì thì, kì đạo quang minh. Khi động mà nhằm vào thì, khi tĩnh cũng nhằm vào thì, đạo Cấn ngày càng rực rỡ. Quẻ Đại Súc là quẻ Ngoại Cấn cũng nói: Đốc thực huy quang, nhật tân kì đức. Đã đốc thực mà lại có huy quang, ngày ngày càng mới được đức minh, đủ bấy nhiêu lời tốt, chẳng phải vì trọng hậu mà được thế rư?

Thánh nhân sợ người ta nhận lầm người trọng hậu là người không tài, nhưng xưa nay những người đại tài bao nhiêu thời lại là người trọng hậu bấy nhiêu. Vì có uẩn súc được dày dặn thời đến khi phát triển mới rõ ràng, duy đốc thực mới huy quang, chính là điểm rất tốt của Cấn. Vì vậy nên trong Dịch gồm tám quẻ Ngoại Cấn, đến hào Thượng thảy là cát mà chính giữa bản thân Cấn thời lại nói rằng: Dĩ hậu chung. Thượng Cửu quẻ Bí thượng đắc chí dã. Thượng Cửu quẻ Bác dân sở tái dã. Thượng Cửu quẻ Đại Súc đạo đại hành dã.

Thượng Cửu quẻ Cổ chí khả tắc dã. Thượng Cửu quẻ Di đại hữu khánh dã. Thượng Cửu quẻ Tổn đại đắc chí dã. Thượng Cửu quẻ Mông lị ngự khấu dã. Tất thảy những hào Thượng ở Ngoại Cấn, Hào từ đã tốt, Tượng Truyện lại hết sức tán dương. Tổng chi, nạp vào hai chữ hậu chung. Bởi vì đốc thực lại huy quang, chính là kết quả của một chữ hậu. Hậu là phản đối với chữ bạc. Hậu chỉ có nghĩa là dày, đất sở dĩ chở được núi sông, dung được bốn bể, nuôi được muôn vật, chỉ vì có đức hậu mà thôi, nền móng dày mới dựng được nhà lớn, lực lượng dày mới cất nổi được gánh nặng.

Xưa nay chẳng thấy hạng người nào mỏng mảnh mà làm nên nghiệp lớn, ý nghĩa ba chữ “đôn cấn, cát” học giả chẳng nên thể nhận hay sao, đó là nói về sự thật vẫn như thế, còn nói về phần triết lí thời bốn câu Soán từ ở đầu quẻ, càng nên nghiên cứu

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thuần Cấn là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Thuần Cấn Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 52 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thuần Cấn Là Gì?

Thượng quái là Cấn, tượng núi; hạ quái là Cấn, tượng núi. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 艮: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thuần Cấn. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 51: Thuần Chấn · Quẻ 53: Phong Sơn Tiệm

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline