Quẻ Sơn Trạch Tổn: Giảm Bớt Đúng Chỗ, Quái Từ Và Sáu Hào

Sơ đồ quẻ Sơn Trạch Tổn số 41: Cấn trên, Đoài dưới; sáu hào được đánh số từ dưới lên.

Quẻ Sơn Trạch Tổn (損) là quẻ số 41 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Cấn (núi), hạ quái là Đoài (đầm). Tổn nói về bớt đi. Lời quẻ đặt lòng thành và sự thích hợp của việc tế lễ vào trung tâm, còn lời tượng nêu việc kìm giận và ngăn ham muốn.

Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.

Quẻ Sơn Trạch Tổn Là Gì?

Số thứ tự 41/64, thứ tự Văn Vương
Tên quẻ Sơn Trạch Tổn — 損
Thượng quái Cấn — Núi
Hạ quái Đoài — Đầm
Hào dương 3
Hào âm 3

Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Đoài, ba hào sau tạo thượng quái Cấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.

Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.

Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Sơn Trạch Tổn

Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.

Nguyên Văn Quái Từ

損:有孚,元吉。无咎,可貞,利有攸往。曷之用?二簋可用享。

Nguyên Văn Thoán Truyện

損,損下益上,其道上行。損而有孚,元吉,无咎,可貞,利有攸往。曷之用?二簋可用享;二簋應有時。損剛益柔有時,損益盈虛,與時偕行。

Nguyên Văn Đại Tượng

山下有澤,損;君子以懲忿窒欲。

Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu

Cấn trên; Đoái dưới Quẻ này là quẻ Sơn Trạch Tổn. Đoài hạ cũng là Nội Đoài, Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn sơn, Đoài trạch, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Trạch Tổn. TỰ QUÁI Tự quái: Giải giả hoãn giả, hoãn tất hữu sở thất, cố thụ chi dĩ Tổn. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Giải tiếp lấy quẻ Tổn là vì cớ sao? Bởi vì trên ấy là quẻ Giải. Giải nghĩa là khoan nới; thường tình người đời hễ khi nguy cấp thường hay lo lắng, đã hay lo lắng thời khỏi thiệt hại, đến khi đã khoan nới thường quên lo, quên lo thời chắc có thiệt hại nên sau quẻ Giải tiếp lấy quẻ Tổn.

Tổn, có nghĩa là thiệt hại, cũng có nghĩa là giảm bớt. Ý nghĩa tên quẻ thời Soán Truyện, Tượng Truyện đã thích kĩ rồi. Ở đây không cần phải thích. PHỤ CHÚ: Quẻ này nguyên là quẻ Thái, Nội Càn biến hào Tam mà thành ra Đoài, Ngoại Khôn biến hào Thượng mà thành ra Cấn. Thế là nguyên quẻ Địa Thiên Thái, biến hai hào mà thành Sơn Trạch Tổn. Bớt hào dương ở dưới mà thêm vào trên, ở dưới tuy tổn mà trên thời được ích, cớ sao không đặt tên quẻ bằng Ích mà lại đặt tên bằng Tổn, đó thiệt là ý tứ rất hay.

Bởi vì ở trên muốn cao, tất phải dưới cho dày, trên vững nhờ dưới làm nền. Ví như đắp tường hay xây tháp, muốn tường tháp được vững, tất phải dưới nền cho dày và rộng thời tường tháp mới đứng yên, Bây giờ khoét đất ở dưới, đưa đắp lên trên thời nền hỏng mà tường tháp phải đổ ngay. Thế thời tổn dưới ích trên là việc rất nguy hiểm nên đặt tên quẻ bằng Tổn. Hễ thời đại đã đến Tổn thời nền tảng Thái đã hỏng rồi, đó là thâm ý của thánh nhân đặt tên quẻ. SOÁN TỪ Tổn, hữu phu, nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng.

Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng. Tổn, hữu phu, nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng. Theo như tượng quẻ Tổn bớt hạ Đoài mà thêm vào Thượng Cấn, bớt nét dương ở dưới mà thêm cho nét âm ở trên, có tượng là bớt của người dưới mà thêm cho người trên, bớt của phía trong mà thêm cho phía ngoài, bóc lột của dân, thêm vào cho vua quan, chỉ là tượng xấu mà thôi, nhưng Quái từ không lấy bằng tượng quẻ mà chỉ lấy nghĩa bằng tên quẻ, tên quẻ là Tổn, Tổn là giảm bớt.

Đạo lí trong thiên hạ, hễ việc gì thái quá thời phải giảm bớt cho vừa đắc trung, chỉ cốt cho đúng việc nên tổn mà tổn. Tỉ như: Dụng độ thời bớt xa xỉ, uy quyền thời bớt lạm dụng, hình luật thời bớt hà khắc, v.v. Tổn mà được như thế thời càng tổn càng hay, nhưng trong khi giảm bớt, tất xuất ở chí thành, tất phải thuận với đạo lí mà cho được thập phần tốt lành. Lại tất phải xử trí cho đắc nghi mà không lầm lỗi. Nếu tổn mà được như thế thời có thể kiên cố mà giữ lấy hoài hoài mà lại tấn hành việc gì cũng tiện lị.

Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng. Trên đây đã nói những việc tổn sở đương tổn, nhưng chỉ nói về đạo lí chung. Bây giờ trích cử lấy một việc trong thì Tổn khiến cho chúng ta suy rộng ra để làm các việc ở thì Tổn, nên Quái từ lại nói nghĩa trong thì Tổn nên dùng bằng thế nào. Tỉ như: Lễ cúng hưởng yến tế chỉ cốt ở thành tín cung kính mà chẳng cần gì nhiều vật phẩm lắm. Vì thành kính tới nơi mà lễ nghi quá giản, dầu chỉ đơn bạc có nhị quỉ cũng cảm cách được quỷ thần, dùng làm việc hưởng tự như thế cũng tốt, đó là theo về thì nghĩa ở thì Tổn, chỉ nên như thế; cái đã nên tổn mà tổn thời dầu ít cũng chẳng ngại gì.

Soán viết: Tổn, tổn hạ ích thượng, kì đạo thượng hành. Tổn nhi hữu phu nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng. Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng, nhị quỷ ứng hữu thì, tổn ích nhu hữu thì. Tổn ích dinh hư, dữ thì giai hành. Soán viết: Tổn, tổn hạ ích thượng, kì đạo thượng hành. Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng quẻ Tổn là vì tượng quẻ Nội Quái nguyên là Càn, Ngoại Quái nguyên là Khôn; bây giờ bớt hào Tam Càn hạ mà đem lên thêm cho hào Thượng Khôn thượng. Thế là bớt dưới mà thêm cho trên, đạo ấy chỉ làm ích phía trên.

Tổn nhi hữu phu nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng. Tổn mà lấy chí thành làm những công việc đáng tổn mà lại nguyên cát, vô cựu, khả trinh thời lị hữu du vãng. Nguyên cát nghĩa là làm cho hoàn thiện; vô cựu nghĩa là làm cho khỏi lầm lỗi; khả trinh nghĩa là làm cho thường hợp với lẽ chính, như thế thời tổn mà cũng có công hiệu, cũng là làm lị ích cho thì Tổn đó vậy. Hạt chi dụng, nhị quỉ khả dụng hưởng, nhị quỷ ứng hữu thì, tổn cương ích nhu, hữu thì. Trên Quái từ có nói rằng: Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng, ý nghĩa của Văn Vương là bảo cho người ta ở thì Tổn nên giảm bớt về phần văn sức mà dày thêm về phần bản chất, nhưng Đức Khổng Tử còn sợ người ta nhận lầm rằng nhất thiết văn sức dầu thì nào cũng phải bỏ, như thế thời trái với đạo Dịch nên lại nói cho rõ thêm rằng: Hễ việc trong thiên hạ, vô bản thời bất lập, vô văn thời bất hành, văn sức có phải khi nào cũng bỏ được đâu, chỉ duy ở về thì Tổn thời văn đã thắng chất, phấn sức quá nhiều mà thành thực quá ít, ứng dụng thuộc về thì ấy phải bớt hư văn, dầu giản đơn chỉ có nhị quỉ cũng đã thích dụng, ứng dụng theo thì Tổn như thế là hay.

Chẳng những văn sức có thì nên tổn mà thôi, còn suy ra cho hết đạo lí, tuy cương vẫn nên nhiều hơn nhu, nhưng đến lúc cương đã thái quá mà nhu thời bất cập, muốn cho cương, nhu vừa thích hợp với nhau, tất phải theo thì mà bớt phần cương để thêm vào phần nhu, đó cũng là cứu thì, có thì phải nên như thế. Tổn ích dinh hư, dữ thì giai hành. Nói tóm lại, vừa đúng với nhịp phải, lả gọi bằng thì, thì nên tổn mà tổn, thì nên ích mà ích, thì nên dinh mà dinh, thì nên hư mà hư, chỉ duy theo ở nơi thì mà lựa cách làm việc cho rập với thì, hễ đã thái quá thời phải bớt, hễ còn bất cập thời phải thêm, hễ còn kém hụt thời phải khiến cho đầy, hễ đã quá bành trướng thời nên khiến cho lưng.

Bốn lẽ ấy, phải theo thì mà làm cho đúng. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Sơn hạ hữu trạch, Tổn. Quân tử, dĩ trừng phẫn trất dục. Quẻ này ở dưới Cấn sơn có Đoài trạch, tượng là khoét ở bề dưới mà thêm vào phía trên cao, trạch sâu chừng nào, sơn càng thêm cao chừng ấy, nhưng lâu ngày thời chân núi phải hỏng, chân đã hỏng, tất núi phải trúc đổ. Thế là tượng quẻ Tổn. Quân tử xem tượng ấy nên nghĩ một cách tổn trong mình. Trong mình mà nên tổn là những cái gì? Là phẫn với dục. phẫn nghĩa là hăng giận bằng khí huyết; dục nghĩa là ham muốn bằng tư tình.

Người đương khi khí huyết vừa hăng lên, tất nhiên khi phẫn nộ không đúng với đạo lí, muốn cho giảm bớt cái giận, tất phải dùng bằng cách trừng. Trừng nghĩa là dằn ép khí giận xuống cho nó khỏi vùng lên nên nói rằng trừng phẫn. Muốn cho bớt tư dục, tất phải dùng một cách bằng trất. Trất, nghĩa là đương khi tình dục mới động phải lo dằn lấp cái hạng dục không cho nó lù ra nên nói rằng trất dục. Nói tóm lại, phẫn và dục là hai bệnh rất lớn trong mình; chữ trừng, chữ trất là phương thuốc rất hay để chữa bệnh ấy.

Phẫn nghĩa là giận, vì người có tính ố mới sinh ra giận. Dục nghĩa là muốn, vì người có tình ái mới sinh ra dục; ái, ố không phải tuyệt đối xấu, nhưng ái, ố mà đúng với thiên lí thời ái, ố đắc chính nên ố mà ố, không phải phẫn; nên áì mà ái, không phải dục; chỉ duy ái, ố mà xuất ở tư tình, hoặc vì khí huyết bậy mà sinh ra, cái không nên ghét mà ghét, ghét sinh ra phẫn, cái không nên yêu mà yêu, yêu sinh ra dục, muốn tổn hết những bệnh ấy, tất phải trừng phẫn, trất dục.

Tuy nhiên, trong hai điều đó, trừng phẫn có dễ hơn trất dục, bởi vì phẫn nộ thường hay phát lộ ra bề ngoài, nếu những người có tính ôn hòa, có khí cương quyết thời trừng phẫn không khó lắm. Duy tình dục là đầm ngấm ở bề trong, chính là nhân tâm duy nguy, nêu không phải thấu lí rất tinh, dụng công chuyên nhất thời chưa dễ trất được dục đâu. Xưa thầy Nhan tuy có lúc giận mà không giận lây đến ai, tuy có lầm lỗi mà chẳng lầm lỗi đến hai lần, Đức Khổng Tử thấy thế mà khen làm hiếu học.

Chúng ta phải biết trừng phẫn trất dục tất phải học vấn thấu đáo như thầy Nhan, mới có thế làm tới nơi

Sáu Hào Của Quẻ Sơn Trạch Tổn

Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.

Hào 1 — Sơ Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

初九:祀(一作已)事遄往,无咎,酌損之。

Phan Bội Châu chú giải:

Dĩ sự suyền vãng, vô cựu, chước tổn chi. Ở về thì Tổn, chính là thì tổn hạ ích thượng, tổn cương ích nhu. Sơ là dương cương mà thượng ứng với Tứ, Tứ là âm nhu mà cẩu ích với Sơ. Theo nghĩa thì Tổn thời Sơ nên giúp lị ích cho Tứ, nên nói rằng: Dĩ sự suyền vãng ( Dĩ sự nghĩa là nghĩ việc của mình, suyền nghĩa là lanh chóng; suyền vãng nghĩa là gấp đi lên), nghĩ việc của mình mà đi lên giùm giúp cho Tứ theo nghĩa vụ của Sơ, như thế mới không tội lỗi. Tuy nhiên, địa vị bậc dưới mà làm ích cho người trên, người trên ích quá nhiều thời mình cũng chịu tổn quá nặng, nên phải cân lường châm chước, lựa những việc đáng bớt của mình mà làm ích cho Tứ.

Tuy không nên bất cập mà cũng chẳng nên thái quá, nên nói rằng: Chước tổn chi ( Chước: cân nhắc, châm chước, cũng có ý đong lường). Tượng viết: Dĩ sự suyền vãng, thượng hợp chí dã. Thượng nghĩa là trên, không phải thượng là chuộng. Sơ Cửu, nghĩa là phải làm cho Lục Tứ nên phải nghĩ việc mình mà gấp qua, bởi vì ở về thì Tổn, có như thế mới hợp được chí người trên vậy

Hào 2 — Cửu Nhị

Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

九二:利貞,征凶,弗損益之。

Phan Bội Châu chú giải:

Lị trinh, chinh, hung, phất tổn, ích chi. Cửu Nhị có đức cương trung, nhưng ở vào thì tổn cương ích nhu, vả Nhị chính ứng với Lục Ngũ là âm nhu bất chính. Người ở trên mình là bất chính, lại xử vào thì tổn hạ ích thượng, chắc Ngũ thường lấy những việc mà cầu Nhị ích cho. Nếu Nhị không biết tự trọng mà giữ lấy đức cương của mình làm những cách nhu duyệt bất chính để giúp cho Ngũ, như thế thời tổn hại đức mình mà cũng chẳng ích gì đến Ngũ, nên thánh nhân răn rằng: Cửu Nhị ơi!

Nhị nếu muốn làm ích cho Ngũ thời nên biết rằng: Quân tử yêu người thường lấy đức. Nhị chỉ nên lấy đức cương của Cửu Nhị, nếu không thế, Ngũ cầu Nhị làm điều bất chính mà Nhị đi ngay, tất nhiên xấu hung ( Chinh nghĩa là bỏ đức cương trung của mình mà chịu Ngũ, như thế tất nhiên hung). Tuy nhiên, Nhị giữ lấy đức trinh đó há phải không làm ích cho Ngũ đâu, hễ mình đã chính kỉ tất nhiên người cũng phải chính. Nhị không tổn hại đức cương của mình, tức là làm ích cho Ngũ đó vậy.

Phất tổn mà nói ích chi cũng như nói: Bất ích chi ích. Tượng viết: Cửu Nhi lị trinh, trung dĩ vi chí dã. Hào Cửu Nhị mà lị ư trinh vì Nhị đã sẵn cương trung thời nên cố chí giữ đức ấy, nghĩa là: Chí để nơi cương trung; trinh nghĩa là chính, nhưng Tượng Truyện lại chú trọng bằng chữ trung, bởi vì trung quý trọng hơn chính; đã được trung tức là chính, nếu chính mà thôi thời chưa chắc đã trung. Vậy nên lấy chữ trung bao chữ chính

Hào 3 — Lục Tam

Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:

六三:三人行,則損一人;一人行,則得其友。

Phan Bội Châu chú giải:

Tam nhân hành, tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành, tắc đắc kì hữu. Nguyên lẽ trong trời đất, lí là giống vô hình, đến hữu hình mới thành ra số, muôn việc thảy ở số mà sinh ra, nguyên ở số chỉ có nhất với nhất đối đãi với nhau, vì nhất tương đối với nhất mới thành ra nhị, đến nhị là vừa khéo, tức là lí nhất âm, nhất dương chi vị đạo trong Dịch. Hễ đã đến tam thời không nhất âm thừa thời cũng nhất dương thừa, đã thừa tất phải bớt nên nói rằng: Ba người đi thời trừ hai người tương đối ra, dư một người, tất phải bớt người ấy đi mới đúng nguyên số; một người đi là còn thiếu một người, trái với lẽ tương đối, tất phải thêm vào một người cho đúng lẽ tương đối, thời một người kia tất nhiên được bạn.

Bởi vì nguyên lí trong vũ trụ chỉ có tương đối mà không gì tuyệt đối, có tương đối mớỉ vừa cân với nhau. Nếu có giống gì tuyệt đối thời cái giống đó thừa ra, thừa tất phải tổn. Tỉ như quân quyền đã tuyệt đối cao tất nhiên phải có dân quyền để tương đối. Bởi vì quân quyền thừa, tất phải bớt. Lại giả như, thần quyền đã tuyệt đối trọng, tất phải có nhân quyền tương đối; khi đã có nhân quyền thời thần quyền thừa ra, thừa tất phải bớt; suy rộng ra đến vạn sự vạn vật, chỉ có nhất với nhất đối đãi cân nhau, đến nhị là vừa, nếu dư một cái mà thành ra tam tất nhiên phải tổn.

Hào từ ở đây chỉ mượn tượng quẻ, ba dương thảy đi thời bớt một nét dương là Cửu Tam: ba âm đểu đi thời bớt một nét âm là Thượng Lục, như thế là tam nhân hành, tắc tổn nhất nhân. Một hào Tam đi lên, một hào Thượng đi xuống, hai hào tương đắc mà thành ra quẻ Tổn. Sơ tương đắc với Tứ, Nhị tương đắc với Ngũ, Tam tương đắc với Thượng, tổng chi là nhất tương đắc với nhất, như thế là nhất nhân hành tắc đắc kì hữu. Chỉ theo thể quẻ mà nói, tuy có ngần ấy lời nhưng đạo lí bao hàm thiệt rộng.

Vậy nên tiên thánh sư thích Hệ tử ở hào này rất kĩ. Hệ tử nói rằng: Trời với đất chỉ nhất âm, nhất dương, giao cảm với nhau mà vạn vật nhờ đó hóa thuần; nam với nữ chỉ một vợ, một chồng giao cấu tinh khí với nhau mà vạn vật nhờ đó hóa sinh. Hào từ Dịch rằng: Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kì hữu, là nói lẽ phải trong trời đất chỉ chuyên chú vào nhất với nhất mà thôi. Nhân huân là có ý giao cảm thân mật. Thiên địa chỉ nói bằng khí âm khí dương.

Hóa thuần nghĩa là tạo hóa ra các loài, loài gì cũng đậm đà, dày dặn. Chữ nam, chữ nữ đây chỉ nói bằng âm, dương, tức như trống mái, đực cái, v.v. thảy gọi bằng nam, nữ. Cấu nghĩa là kết hợp; tinh nghĩa là tinh khí; hóa sanh nghĩa là sanh nở biến hóa mãi mãi. Tục Nhật Bản gọi gà mái bằng chim gái, gà trống bằng chim trai, chính đúng với nghĩa nam, nữ ở đây. PHỤ CHÚ: Hai chữ “trí nhất”, chúng ta nên nhận ý nghĩa cho ra. Bởi vì nguyên thỉ trong vũ trụ, chỉ có một chữ zêrô mà bắt đầu thành ra có số.

Số đầu tiên là nhất, đặt số nhất trên zêrô thành mười, cứ tiến lên mãi thành trăm, ngàn, vạn, ức triệu, v.v. cũng chỉ thấy ở trên mấy zêrô là số nhất, đó mới biết được nguyên lí trong vũ trụ chỉ có cái nhất, nhưng mà đã có sinh tất có thành nên lại phải có nhất nữa để tương đối với nhất, nhất tương đối với nhất thành ra nhị, đến nhị là bao bọc hết công dụng trong vũ trụ. Tuy nói cho đến những giống phức tạp tẳn mẳn, vạn trạng thiên hình, nhưng rút cùng chỉ nhất với nhất, đó vậy.

Tỉ như: Nhất âm nhất dương, nhất thiện nhất ác, nhất hùng nhất thư, nhất tẫn nhất đậu, có giống gì tránh khỏi nhất với nhất tương đối đâu, nên Kinh văn mới có hai chữ “trí nhất”, theo về đạo lí vẫn là trí nhất mà kể về làm việc lại nên trí nhất lắm. Vô luận học thuật, văn nghệ và thực nghiệp, công tác, hễ đã làm việc gì tất phải trí nhất việc ấy, nếu không trí nhất thời không làm nên. Người xưa có câu: Lòng mình không dùng hai ngả. Lại có câu: Đạo lí không hai đường phải.

Lại có câu: Hễ các giống không giống nào hai bên lớn địch nhau, tất thảy là lẽ trí nhất đó vậy. Tượng viết: Nhất nhân hành, tam tắc nghi dã. Hễ nhất nhân hành thời chỉ thêm vào nhất nhân nữa là vừa tương đắc, nếu ở ngoài hai người đó mà lại thêm vào một người nữa thế là tam, thời tất nhiên bên nào cũng nghi cả. Bây giờ thiết ra một cách thí dụ cho minh bạch, chữ nhân chớ câu nệ nhân là người, ta bỏ lơ chữ nhân mà chỉ nói chữ nhất và chữ tam mà thôi. Lệ như: Chú Giáp và anh Ất cặp nhau mà đi, tất nhiên Giáp phải chuyên tâm vào Ất mà Ất cũng chuyên tâm vào Giáp; nếu đột nhiên thêm Bính vào nữa thời vì trước kia đã có Ất với Giáp rồi, bây giờ Bính biết chuyên tâm với ai, chẳng phải là nghi hay sao?

Vả lại, Giáp hay Ất thấy Bính chắp vào, tất anh nào cũng phải chia lòng vào Bính mà cái lòng chuyên nhất ở lúc xưa nhân đó mà sinh ra hồ hoặc, chẳng phải là nghi hay sao? Vậy nên, nhỏ từ nhất vật, nhất sự, lớn đến nhất đảng, nhất phái, nhất chủ nghĩa, không bao giờ tránh khỏi nhất tắc đắc nên nói rằng: Nhất nhân hành, tắc đắc kì hữu. Đọc Kinh văn thảy nên chú ý như thế, chớ nên câu nệ ở nơi mặt chữ mà bỏ mất thâm ý của thánh nhân

Hào 4 — Lục Tứ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六四:損其疾,使遄有喜,无咎。

Phan Bội Châu chú giải:

Tổn kì vật, sử suyền, hứu hỉ, vô cựu. Chữ suyền ở đây với chữ suyền ở hào Sơ tương ứng; Sơ với Tứ là bạn tương ứng, nhưng Sơ có đức dương cương mà ở dưới, Tứ có bệnh âm nhu mà ở trên, xử vào thì tổn hạ ích thượng, tất nhiên Sơ phải làm ích cho Tứ, vả lại Tứ cũng phải cầu ích với Sơ. Sơ muốn làm ích cho Tứ thời nên thế nào? Chỉ duy bớt tật âm nhu của Tứ mà lấy đức dương cương của mình giúp cho Tứ khiến Tứ chóng trừ được tật ám nhu.

Như thế thời hữu hỉ mà lại vô cựu. Hỉ là mừng cho Tứ được mau thôi bệnh; tật là nết xấu bằng âm nhu; suyền nghĩa là lanh chóng, chữ “suyền vãng” ở hào Sơ nghĩa là phải đi lên mau giúp cho Tứ. Chữ “sử suyền” ở hào Tứ là khiến cho Tứ mau thôi bệnh, đồng một chữ mà công dụng khác nhau. Tượng viết: Tổn kì tật, diệc khả hỉ dã. Tứ sẵn có tật, vẫn không lấy gì đáng mừng, nhưng vì Sơ làm ích mà giảm được bệnh cho mình thời hai bên thảy đáng mừng đó vậy. Sở dĩ có chữ diệc, nghĩa là chẳng những người bớt được bệnh mừng đã đành mà người chữa lành được bệnh cho người cũng lấy làm mừng vậy

Hào 5 — Lục Ngũ

Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

六五:或益之,十朋之龜弗克違,元吉。

Phan Bội Châu chú giải:

Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, nguyên cát. Lục Ngũ có đức nhu trung, ở được vị nguyên thủ, lại có bạn chính ứng là Cửu Nhị; Nhị có đức cương trung làm ích cho Ngũ mà Ngũ cũng hết lòng thuận tòng với Nhị. Ở vào thì tổn hạ ích thượng mà cương, nhu tương đắc như thế thời thiên hạ ai chẳng vui làm ích cho mình. Thí dụ như có con rùa thiêng nặng tới mười bằng mà thình lình có người đưa tới làm ích cho mình mà mình không thể từ chối, thụ ích bằng một cách rất tự nhiên mà lại rất to lớn, thế là bao nhiêu cái ích của thiên hạ, thảy làm ích cho mình, chắc được tốt lành to lớn vậy.

Hoặc ích chi nghĩa là thình lình có người đưa đến làm ích cho. Bằng là một tên con số ở đời xưa, hai bối thời gọi một bằng mười bằng, thời chu vi lớn đến hai nghìn một trăm sáu mươi thước. Thập bằng chi quy là tỉ dụ việc ích cực kì lớn. Vi nghĩa là từ chối. Phất khắc vi nghĩa là không thể từ chối được. Làm ích đến mười bằng là việc rất lớn mà mình không thể từ chối được nên nói rằng: Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi. Thập bằng chi quy chỉ nói việc thụ ích rất lớn là được, không cần phải nói con rùa lớn làm gì.

PHỤ CHÚ: Theo về nghĩa quẻ thời tổn hạ ích thượng vẫn là xấu, có gì là tốt đâu, nhưng theo nghĩa hào thời cương trung với nhu trung, đủ hai đức ấy mà ngồi chịu thiên hạ đem ích đến cho chính là tốt lớn nhất trong thì Tổn, nên trong sáu hào, duy hào Ngũ được nguyên cát, đó chính là nghĩa tùy thì biến dịch trong Dịch. Tượng viết: Lục Ngũ nguyên cát, tự thượng hựu dã. Hào này sở dĩ được nguyên cát vì có đức nhu trung nên thu thập được lòng người, lòng người đã quy hướng vào thời lòng trời cũng phải bênh vực, cái nguyên cát đó là lòng trời giúp cho đó vậy.

( Thượng, nghĩa là thượng thiên)

Hào 6 — Thượng Cửu

Đây là hào dương ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:

上九:弗損益之,无咎,貞吉,利有攸往,得臣无家。

Phan Bội Châu chú giải:

Phất tổn ích chi, vô cựu, trinh cát, lị hữu du vãng đắc thần vô gia. Hào này ở trên hết quẻ Tổn, đương thì ích thượng, mà Thượng Cửu lại ở trên hết, tất nhiên thụ ích được quá nhiều, ích quá nhiều tất nhiên đầy, đầy tất nhiên đổ nên thánh nhân mới dạy rằng: Thượng Cửu ơi! Thượng ở vào cuối cùng thì Tổn, lại ở trên hết người ta, Tổn cực tất nhiên phải biến, chịu ích quá nhiều, tất phải lo đền giả. Thượng Cửu nên lấy đức dương cương của mình mà tùy thì thiện xử, bỏ những việc làm tổn người mà lo những việc làm ích cho người.

Như thế thời không tội lỗi, lại được chính vừa lành, ở về cuối cùng thì Tổn mà biết làm lị ích cho người, ấy là hợp với nghĩa biến thông mà lại rất đúng với đạo nhân thượng, chắc thiên hạ ai nấy cũng phục tòng, nếu có tấn hành những việc gì, hay có đi ở chốn nào chỉ thấy được lòng quy phụ mà thôi, té ra nước đó là nhà của mình. Đắc thần là được lòng người thần phục; vô gia nghĩa là không cần nhà mình riêng mới là nhà; đắc thần vô gia tương tự câu hóa gia vi quốc, có ý là mất hẳn giới hạn nhà với nước.

Tượng viết: Phất tổn, ích chi, đại đắc chí dã. Người ở trên hết chúng nhân mà không chịu làm việc tổn nhân, chỉ lo làm việc ích nhân, chí nguyện của quân tử đến lúc bây giờ mới thỏa thích lớn. Bởi vì quân tử không bao giờ muốn làm tổn người, chỉ duy làm lị ích cho người, ích bao nhiêu thời lòng người được vui vẻ bấy nhiêu nên nói rằng: “Đại đắc chí đã”. Chữ đắc ở đây, chính là “lạc dĩ thiên hạ”, thiên hạ vui thời mình mới vui, đó là chí của quân tử. PHỤ CHÚ: Bàn tóm hết cả quẻ Tổn, nguyên chữ Tổn có ba nghĩa: Một, nghĩa là tổn kỉ, như hào Sơ tổn kỉ mà ích cho Tứ, hào Tam tổn nhất mà thêm cho Thượng; một nghĩa là tổn nhân, như tượng quẻ, tổn kẻ dưới mà ích cho kẻ trên; một nghĩa nữa là tổn điều xấu mà ích điều lành, như ở Tượng Truyện nói trừng phẫn trất dục; ở Cửu Nhị nói lị trinh, ở Lục Tứ nói tổn kì tật, thảy là thuộc về nghĩa ấy.

Duy đến hào Thượng Cửu thời tổn đã cùng cực rồi nên biến nghĩa tổn làm ra nghĩa ích, nên Hào từ nói phất tổn, ích chi, nhưng bốn chữ phất tổn ích chi ở Thượng Cửu với Cửu Nhị văn tuy đồng mà nghĩa khác nhau xa, hào Cửu Nhị thời bảo giữ đức mình mà không tổn là vừa đủ làm ích cho người, đến như Thượng Cửu thời bảo chớ tổn người mà chỉ lo làm ích cho người. Tóm xem cả sáu hào, vẫn ở chung trong một thì Tổn, nhưng vì nghĩa Tổn khác nhau mà cách làm Tổn cũng khác nhau nên hiệu quả cũng khác nhau, đó là vì tạo nhân bất đồng thời kết quả cũng bất đồng.

Nếu bảo ràng tổn chỉ là tổn mà không ích gì trong thì Tổn thời thánh nhân còn tác Dịch làm gì

Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ

Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Sơn Trạch Tổn là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.

Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.

Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.

Câu Hỏi Thường Gặp

Quẻ Sơn Trạch Tổn Là Quẻ Số Mấy?

Đây là quẻ số 41 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.

Thượng Quái Và Hạ Quái Của Sơn Trạch Tổn Là Gì?

Thượng quái là Cấn, tượng núi; hạ quái là Đoài, tượng đầm. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.

Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?

Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.

Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?

Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.

Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập

  1. Chu Dịch — quẻ 損: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
  2. Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Sơn Trạch Tổn. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.

Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.

Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên

Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 40: Lôi Thủy Giải · Quẻ 42: Phong Lôi Ích

× Zalo Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên
Zalo
Hotline Tử Vi Phong Thủy Phúc Viên Hotline