Quẻ Lôi Thủy Giải (解) là quẻ số 40 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Chấn (sấm), hạ quái là Khảm (nước). Giải nói về cởi mở, giải tỏa. Sấm và mưa là hình tượng của quẻ; lời quẻ phân biệt có việc cần đi với không có việc cần đi, từ đó nhấn mạnh sự thích hợp của hành động.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Lôi Thủy Giải Là Gì?
| Số thứ tự | 40/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Lôi Thủy Giải — 解 |
| Thượng quái | Chấn — Sấm |
| Hạ quái | Khảm — Nước |
| Hào dương | 2 |
| Hào âm | 4 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Khảm, ba hào sau tạo thượng quái Chấn. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Lôi Thủy Giải
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
解:利西南,无所往,其來復吉。有攸往,夙吉。
Nguyên Văn Thoán Truyện
解,險以動,動而免乎險,解。解利西南,往得眾也。其來復吉,乃得中也。有攸往夙吉,往有功也。天地解,而雷雨作,雷雨作,而百果草木皆甲坼,解之時義大矣哉!
Nguyên Văn Đại Tượng
雷雨作,解;君子以赦過宥罪。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Chấn trên; Khảm dưới Quẻ này là quẻ Lôi Thủy Giải. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Khảm thủy, nên tên quẻ gọi bằng Lôi Thủy Giải. TỰ QUÁI Tự quái: Kiển giả nạn giả, vật bất khả dĩ chung nạn, cố thụ chi dĩ Giải, Giải giả hoãn dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải là vì cớ sao? Trên kia là Kiển, Kiển nghĩa là nạn, vật không lẽ cứ nạn hoài, nạn cực rồi, tất có lúc tan, nên sau quẻ Kiển tiếp lấy quẻ Giải. Giải nghĩa là tan, bao nhiêu việc khốn nạn đến bây giờ đều giải tán cả.
In như tượng quẻ, Chấn là lôi, Khảm là vũ, âm dương giao cảm hòa xướng mà đồng thì mưa sấm lung tung, bao nhiêu khí u uất đến lúc bây giờ giải tán hết ráo, ấy là chữ Giải. Nên đặt tên quẻ bằng Giải. SOÁN TỪ Giải, lị Tây Nam, vô sở vãng, kì lai phục, cát, hữu, du vãng, túc cát. Thời đại vừa đến lúc Giải, Kíển nạn vừa qua, nhân tâm yếm loạn, ai nấy chỉ trông được an cư lạc nghiệp là hay. Hễ những người có quyền chính trị ở lúc bây giờ, chỉ làm một cách khoan đại giản dị, chớ nên làm những cách phiền hà rối ren, vậy nên Quái từ nói: Giải, lị Tây Nam (Tây Nam là đường lối khoan đại bình dị, chinh thể theo cách khoan giải, thí dụ như đi về Tây Nam).
Đến khi thiệt đã bình an vô sự rồi, như đã đi đường lối Tây Nam là chốn nhất định lâu dài, lúc bấy giờ chỉ nên sửa sang lại những tích tệ, giữ gìn lấy trật tự cũ. Không cần phải sinh sự nhiễu dân làm gì nữa, ấy là vô sở vãng, kì lai phục. Vô sở vãng, nghĩa là chớ có làm gì đa sự; kì lai phục (chữ kì đây là phát ngữ từ) nghĩa là bao nhiêu trật tự cũ thời khôi phục lại cho y nhiên, bao nhiêu nhân dân cũ thời hồi phục lại cho an lặng, bao nhiêu nền tảng cũ thời xây đắp lại cho hoàn toàn, ấy là nghĩa chữ lai phục, lúc đã giải rồi, chỉ có thế là được cát.
Tuy nhiên, khi loạn đã trừ rồi, tất phải đồ trị, bảo chỉ một mực vô vi mà thôi thời sợ mắc lấy bệnh nhân tuần cô tức, nên những việc bảo chướng trị an, phế trừ tích tệ, mong cho nền tảng trị bình được lâu dài, tất phải có việc đáng làm. Những việc đáng làm đó, tất phải làm gấp ngay thời chẳng những việc loạn cũ không mầm tái sinh mà sự nghiệp thái bình lại có cơ nảy nở nên lại nói rằng: Hữu du vãng, túc cát ( Hữu du vãng nghĩa là có việc phải làm; túc nghĩa là làm cho lanh chóng).
Tỉ như: Họa loạn đã bình rồi, phải gấp lo phát chính thi nhân; ác đảng đã tan rồi, phải gấp lo tiến hiền cử năng, thảy là nghĩa “hữu du vãng túc cát” đó vậy. Thích tóm lại, lị Tây Nam là cốt theo đường giản dị; vô sở vãng là không nên thêm chuyện làm rầy; kì lai phục là làm cho hồi phục lại như khi chưa loạn; hữu du vãng là tính một cách làm trị an được lâu dài; túc là gặp dịp phải làm mau. PHỤ CHÚ: Đọc sử Tàu, trải qua loạn Tần Sở, thiên hạ khôn khổ suốt ba mươi năm, đến lúc Hán hưng, Tào Tham bắt đầu làm tướng, nhất thiết lấy thanh tịnh vô vi vi trị, thiên hạ xưng Tào Tham là hiền tướng, đó là nghĩa: Vô sở vãng, kì lai phục cát.
Lại như: Hồi Tam Quốc nhiễu loạn, ông Khổng Minh trì nước Thục, khuyên dân cày cấy, rộng mở đường sinh lí cho dân, thiết lập nhiều nhà học hiệu, giảm phú thuế, tuyển dụng những quan lại hiền năng, tu lí hết kiều lương đạo lộ, chỉ trong mười năm mà trong nước Thục thành ra một nước thái bình nhỏ. Người trong đời xưng Khổng Minh trường ở trì quốc, đó là nghĩa câu: Hữu du vãng, túc cát. Soán viết: Giải, hiểm dĩ động, động nhi miễn hồ hiểm, Giải. Giải lị Tây Nam, vãng đắc chúng dã. Kì lai phục, cát, nãi đắc trung dã.
Hữu du vãng, túc cát, vãng hữu công dã. Thiên địa giải, nhi lôi vũ tác, lôi vũ tác, nhi bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời đại hĩ tai. Soán viết: giải, hiểm dĩ động, động nhi miễn hồ hiểm, Giải. Đây là lấy đức quẻ thích nghĩa tên quẻ, Khảm là có tính hiểm, Chấn là có tính động, vì hiểm mà sinh ra nạn, vì động mà thoát được nạn, ngộ hiểm mà còn động được, mới thấy được người có tài, động mà thoát khỏi hiểm mới thấy có tài giải nạn nên đặt tên quẻ là Giải.
Giải, lị Tây Nam, vãng đắc chúng dã. Vì sao mà nói Giải lị Tây Nam? Bởi vì thì Giải chỉ nên đi vào đường lối quảng đại, khoan bình thời tất được lòng người thuận về với mình, sẽ làm chóng được công việc Giải. Kì lai phục, cát, nãi đắc trung dã. Khi họa hoạn đã giải tán rồi thời chỉ nên trở lại đường lổì an tịnh, nghĩ một cách trị an cho được lâu dài nên nói rằng: Kì lai phục cát, nghĩa là có như thế mới được đạo trung vậy. Chữ trung ở đây là bảo cho chớ phiền nhiễu mà cũng chớ quá cô tức, chi cốt cho vừa đắc trung là hay.
Hữu du vãng, túc cát, vãng hữu công dã. Tuy nhiên, theo về đạo giải nạn thời khi nạn đã giải rồi còn phải tính sao cho nạn khỏi tái phát, há phải vô sở vi mà thôi đâu, việc đáng vô sở vi thời vô vi, việc đáng hữu sở vi cũng tất phải hữu vi nên lại nói rằng: Hữu du vãng, túc cát, nghĩa là: cũng phải có tấn hành thời mới hữu công ở thì Giải. Thiên địa giải, nhi lôi vũ tác, lôi vũ tác, nhi bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời đại hĩ tai. Chữ thiên địa đây là chỉ nói về khí âm dương.
Khí âm dương còn u uất thời vạn vật khó phát sinh, đụng có một ngày khí âm dương hòa hoãn giải tán mà mưa sấm trong một lúc bùng tóe ra, mưa sấm đã đồng thì tác dụng, mà lúc bấy giờ cây cỏ cho đến trăm thức hoa quả thảy nứt nở. Tùng lai, thế đạo chưa đến hồi giải thời nhân tình còn u uất, sát khí còn bịt bùng, muốn bỏ việc dở mà chưa có dịp ra tay, muốn làm trăm việc hay, mà chưa có đường gỡ múi. Bây giờ đã đến thì Giải thời bao nhiêu nỗi uất tắc đã thư tán, bao nhiêu đường bế tắc đã mở rộng, bao nhiêu sát cơ đã dẹp sạch mà sinh cơ vừa vụt vụt vùng vùng, bao nhiêu việc hại có thể trừ bỏ ngay, bao nhiêu việc cơ có thể hưng khỉ được ngay.
To lớn vậy thay, là thì Giải đó vậy, nên nói rằng: Giải chi thời đại hĩ tai. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: lôi vũ tác, Giải, quân tử dĩ xá quá hựu tội. Lôi vũ tác là tượng quẻ Giải, Chấn vi lôi, Khảm vi vũ, tượng là khí âm dương hòa giải mà thành ra sấm mưa. Quân tử xem tượng ấy, theo như lòng nhân trời đất mà thi ân trạch với dân làm một cách khoan đại, gặp những người có lầm lỗi thời xá quách cho họ, gặp những đứa có tội ác thời khoan thứ cho nó ( Xá nghĩa là tha bổng, vì nó chỉ quá thất thời xá ngay; hựu nghĩa là khoan thứ cho, vì nó phạm vào tội ác không có thể tuyên xá được nên dùng bằng cách khoan hựu.
Tỉ như: hình phạt đáng án nặng mà giảm cho nhẹ án. Nhân ân như thế là một cách tùy thì của quân tử ở thì Giải. Ngoài nữa, còn có nhiều việc thời đã có Quái từ, Soán Truyện, Hào từ nói đủ rồi, chúng ta chớ thấy Tượng Truyện mà bảo rằng chỉ có bấy nhiêu là xong, thể phép đọc Dịch tất thảy như thế
Sáu Hào Của Quẻ Lôi Thủy Giải
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:无咎。
Phan Bội Châu chú giải:
Vô cựu. Sơ Lục này, trong Hào từ không một lời gì, chúng ta nên nhận ý thánh nhân ở chốn không chữ. Bởi vì ở thì Giải mà hào này lại bắt đầu vào thời đại ấy, chất nhu mà xử vào vị dương là một người cương, nhu đắc nghi, lại ở vào đầu thì Giải, chính là thì nên an tịnh hưu tức, bảo Sơ làm việc gì thời chưa có việc gì đáng làm, bảo Sơ không làm việc gì thời Sơ vẫn là người vô sự. Bởi thì nghĩa, ở hào Sơ chỉ nên êm đềm lặng lẽ là đúng nghĩa rồi.
Vậy nên Hào từ không thêm một chữ gì, chính là tỏ ý vô vi đó vậy. Lẽ trong thiên hạ, duy có làm mới sinh ra lỗi, đã không làm thời lỗi còn sinh ở đâu nên chỉ hai chữ. Sơ Lục là đạo lí xử đầu thì Giải đã xác định rồi cho nên Hào từ chỉ thêm hai chữ vô cựu là đủ. Tượng viết: Cương, nhu chi tế nghĩa vô cựu dã. Hào Sơ nhu ứng với hào Tứ cương, thế là cương mà pha vào nhu, nhu mà chế thêm cương, chẳng thiên vào cương mà cũng chẳng thiên vào nhu, cương, nhu chi tế là cái thủ đoạn ở đầu thì Giải rất hay, cứ theo thì nghĩa thiệt không gì đáng trách lỗi
Hào 2 — Cửu Nhị
Đây là hào dương ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九二:田獲三狐,得黃矢,貞吉。
Phan Bội Châu chú giải:
Điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ, trinh, cát. Ở về thì Giải, hoạn nạn đã giải tán mà địa vị Cửu Nhị xử vào giữa Nội Quái, bản thân Nhị dương cương đắc trung mà ứng với Lục Ngũ ở Thượng Quái. Ngũ là tượng một vị nguyên thủ, thì đã tiến, thế cũng khá mạnh, há lẽ như Sơ Lục mà xong được rư! Nhị vì địa vị trách nhiệm như thế nên phải một cách duy trì trị an, phòng bị hậu hoạn, trừ khử cho hết nọc tiểu nhân, bảo tồn lấy những người trung trực, tượng như ông chủ săn trong lúc đi săn bắt sống được ba con hồ mà lại giữ được mũi sặt vàng ( Hồ là một giống muông tà mị, bắt được ba con hồ, nghĩa là chụp óc được ba anh tiểu nhân đầu bầy; hoàng là sắc trung; thỉ là mũi sặt là một giống ngay thẳng; đắc hoàng thỉ là giữ gìn được hạng người trung trực).
Ở vào thì Giải, lại có địa vị như Cửu Nhị, nếu trừng trị được tiểu nhân, giữ gìn được trung trực, thế còn gì tốt hơn. Nhưng còn lo cho Cửu Nhị, công việc ở thì Giải thời còn bộn bề mà sợ Cửu Nhị lâu ngày sinh mỏi, không bền giữ được đạo cương trung, nên Hào từ lại răn cho hai chữ trinh cát, nghĩa là có bền giữ được đạo trung chính, mới được cát. Tượng viết: Cửu Nhị trinh cát, đắc trung đạo dã. Cửu Nhị mà còn phải răn bằng trinh cát, nghĩa là: Mình tuy chính trực, nhưng phải giữ cho được đạo trung, bởi vì chính trực mà nếu bất trung, cũng thường hay cấp kích thái quá mà té ra hỏng việc.
Vậy nên Tượng Truyện lại nói: Đắc trung đạo dã
Hào 3 — Lục Tam
Đây là hào âm ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六三:負且乘,致寇至,貞吝。
Phan Bội Châu chú giải:
Phụ thả thừa, trí khấu chí, trinh lẫn. Lục vẫn đã âm nhu mà ở vào vị Tam là vị dương cương, thế là sở xử bất chính, đã bất chính lại bất trung là một hạng tiểu nhân, thế mà nhảy lên trên Nội Quái là vị khá cao, tiểu nhân nhi cư cao vị, có khác gì một hạng người vừa mang đội, vừa ngồi xe ngất ngưởng khó xem, thế ai cũng ghét, chỉ làm ngứa mắt cho bọn trộm cướp mà dắt trộm cướp tới hại mình. Nếu Tam giữ lấy cách ấy mà không chừa thiệt đáng xấu hổ. (Chữ trinh ở đây chỉ có nghĩa là cố thủ, không phải trinh là chính như nghĩa ở các hào khác.
Phụ là mang đội, lưng đội vai mang là việc của tiểu nhân; thừa nghĩa là cỡi xe là đồ sang trọng để đãi người quân tử). PHỤ CHÚ: Hào từ Hệ tử đã giải nghĩa rất kĩ, tiện dịch ra đây. Hệ tử nói rằng, người làm Dịch thiệt biết được tình trạng của bọn trộm cướp đó, và Dịch đã tửng nói rằng: Phụ thả thừa trí khấu chí, nhưng bọn trộm cướp há phải tự nhiên vô cớ mà nó tới đâu. Mang đội là công việc của tiểu nhân, xe cộ là khí cụ để đãi phường quân tử. Lấy mình là tiểu nhân mà cỡi ngang khí cụ của quân tử, chỉ xui khiến cho bọn trộm cướp trù tính cách cướp mà thôi.
Xưa nay làm việc một nhà một nước hoặc một xã hội, người ở trên thời lờn lã loàng xoàng, người ở dưới thời ỷ thế hoành hành, tất nhiên bọn trộm cướp tính cách đánh đuổi ngay. Chẳng những thế mà thôi, lẽ thường trong thiên hạ, nhà giàu có của mà sơ sài cách thu giấu là dạy cho trộm cướp vào lấy của mình. Con gái có dung dáng mà ngày đêm trau dồi là dạy cho tụi gian dâm đến hiếp mình. Nếu mình không mạn tàng thời trộm cướp biết đâu mà tới, nếu mình không dạ dung thời đứa dâm nào ngó tới, nên Hào từ trong Dịch nói rằng: Phụ thả thừa trí khấu chí là thí dụ tiểu nhân mà lên mặt quân tử, chỉ là làm môi giới cho đạo tặc mà thôi.
Tượng viết: Phụ thả thừa, diệc khả xú dã, tự ngả trí nhung, hựu thùy cựu dã. Tư cách một hạng người chỉ đáng mang đội mà lại ngồi xe cũng đáng xấu hổ vậy, tự giữa mình làm quấy mà dắt giặc tới nhà, lại còn trách lỗi được ai nữa. Giặc lớn gọi bằng nhung, giặc bé gọi bằng đạo, chữ nhung thay cho chữ khấu
Hào 4 — Cửu Tứ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九四:解而拇,朋至斯孚。
Phan Bội Châu chú giải:
Giải nhi mẫu, bằng chí tư phu. Chữ nhi là đại danh từ, nghĩa là mày, chỉ vào bản thân hào Tứ. Mẫu là ngón chân cái, chỉ vào Sơ Lục. Cửu Tứ có tài dương cương lại ở vào địa vị trên, thân cận với Lục Ngũ là vị nguyên thủ. Thế là bản thân Cửu Tứ vẫn là một bậc quân tử đắc thì, nhưng vì hạ ứng với Sơ là âm nhu tiểu nhân, tất đến nỗi bè quân tử không ai dám gần mình, nên thánh nhân răn cho Tứ rằng: Tứ vẫn là người tốt, song vì chính ứng với Tứ là Sơ Lục.
Sơ Lục là một hạng âm nhu tiểu nhân, nếu Tứ muốn được lòng quân tử thời gấp mau tuyệt giao với Sơ; tiểu nhân đã tránh xa thời bè quân tử mới vui tới mà tín cẩn Tứ. Giải nhi mẫu nghĩa là cắt quách ngón chân cái của mày; Sơ ở dưới là vi tiện mà dính líu với Tứ, nên thí dụ bằng mẫu. Xa tránh Sơ tức là giải nhi mẫu. Tượng viết: Giải nhi mẫu, vị đáng vị dã. Tứ vẫn dương cương, nhưng xử vị âm nhu là vị không được chính đáng vậy. Vì có hiềm nghi như thế nên răn rằng giải nhi mẫu, xa được lũ tiểu nhân thời bè quân tử tới.
Vậy nên li thoát Sơ sẽ bổ cứu cho Tứ đó vậy
Hào 5 — Lục Ngũ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六五:君子惟(一作維)有解,吉;有孚于小人。
Phan Bội Châu chú giải:
Quân tử duy hữu giải, cát, hữu phu vu tiểu nhân. Toàn cả quẻ, hai hào dương là loài quân tử, bốn hào âm là loài tiểu nhân. Lục Ngũ này, đồng loại với ba hào âm, có hiềm nghi là không phải quân tử. Nhưng Ngũ ở địa vị chí tôn là người nguyên thủ trong một nước, Ngũ làm chủ ở thì Giải, quan hệ với thế đạo rất to, nên thánh nhân răn cho rằng: Tự thân Ngũ nếu là quân tử chẳng gì tốt hơn bằng cách hữu Giải, kìa Tam âm đồng loại với Ngũ, Ngũ gấp giải tán nó cho mau, như thế thời được cát.
Giải: cắt đứt bọn tam âm; duy hữu: chỉ có cách ấy. Nhưng vì Ngũ cũng là âm nhu, không lấy gì chắc là quân tử, nên lại nói rằng: Hữu phu vu tiểu nhân. Chữ phu ở đây khác với nghĩa chữ phu ở mọi nơi. Muốn biết Ngũ làm được quân tử hay không, tất chứng nghiệm vào bọn tiểu nhân, tiểu nhân còn ở gần cạnh Ngũ thời Ngũ là tiểu nhân, tiểu nhân không dám thân cận với Ngũ thời Ngũ mới là quân tử. Xem ở tiểu nhân gần hay xa thời chứng nghiệm được Ngũ là ý Hào từ rất hi vọng cho Ngũ.
Tượng viết: Quân tử hữu giải, tiểu nhân thối dã. Quân tử hữu giải thời chứng nghiệm vào chốn nào? Nghiệm vào nơi tiểu nhân, tiểu nhân lui hết thời biết đạo quân tử đã tấn rồi vậy. PHỤ CHÚ: Kiển với Giải là hai quẻ tiếp nhau. Kiển là chính giữa lúc hoạn nạn, Giải là khi hoạn nạn đã tán rồi; thời thế khác nhau thời nhân tài cũng phải khác nhau. Vậy nên, đồng một hào Ngũ mà khác nhau chữ Cửu và chữ Lục. Cửu có đức dương cương nên có tài bát loạn mà cứu được Kiển nạn. Lục chẳng qua là tài âm nhu nên Hào từ hào Ngũ không dám quyết đoán.
Kiển Cửu Ngũ thời nói rằng đại kiển bằng lai. Giải Lục Ngũ thời nói rằng hữu phu vu tiểu nhân. Ngũ tuy đồng mà Cửu với Lục không đồng nên Hào từ phải có cân lượng
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:公用射隼,于高墉(一作庸)之上,獲之,无不利。
Phan Bội Châu chú giải:
Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng, hoạch chi, vô bất lị. Xạ nghĩa là nhè mà bắn; chuẩn là một giống chim rất dữ mạnh; cao dung nghĩa là bức tường cao; hoạch là bắn được. Toàn văn hào này thích qua, nghĩa là: Một vị công dụng bắn con chim chuẩn ở trên bức tường cao, bắn được nó; có tượng như thế, không việc gì là không lị. Hệ tử thích nghĩa rất kĩ, xin tiện dịch ra đây. Hệ tử nói rằng: Chuẩn giả cầm dã, cung thỉ giả khí dã, xạ chi giả nhân dã. nghĩa là: Chuẩn là giổng cầm, cung thỉ là đồ để bắn, còn người bắn được nó là người có tài hay bắn vậy.
Chỉ ba câu ấy ý nghĩa rất giản minh. Tỉ như: Bắt tay làm việc, nhân là người làm việc khí là tài liệu với trí thức, cầm là mục đích vật. Có người làm việc mà lại cốt có tài liệu, có trí thức thời cái mục đích mình nhắm chắc phải trúng ngay. Vậy nên, Hạ văn lại nói tiếp rằng: Quân tử tàng khí vu thân, đãi thì nhi động, hà bất lị chi hữu. Hễ quân tử toan làm việc, vẫn trước phải có mục đích, nhưng trước khi làm việc phải chứa sẵn những đồ dùng trong thân mình, chờ đến có thì cơ mà động.
Chúng ta đọc hai câu ấy nên phải nghĩ: khí là gì? Khí mà lại trữ trong mình là khí gì? Tài năng với học thức chính là cái khí nên trữ sẵn trong mình. Tuy nhiên, tài năng vẫn giỏi, học thức vẫn cao, nhưng mà làm việc thiên hạ lại cần phải dòm vào thì. Thì là gì? Tức là cơ hội, thí như cung tên là khí tàng sẵn rồi, nhưng khi đem ra bắn tức phải rình cơ hội, khi chim đương đậu hay chim đương ngủ, hoặc khi chim đương ngủ say mới mà không thấy mình, ấy là cách chờ thì.
Hễ đã giấu sẵn khí cụ trong mình, lại chờ đúng thì cơ mà phát động thời có gì là bất lị nữa đâu. Động nhi bất quát, thị dĩ xuất nhi hữu hoạch, ngữ thành khí nhi động giả dã. Phát động mà không ai bó buộc được mình, không vật gì chướng ngại được mình, tất nhiên ra làm mà thành công. ( Quát nghĩa là ngăn, cũng có nghĩa là vấp chạm; hoạch nghĩa là thành công. Động mà không trở ngại, vấp chạm tất nhiên thành công. Bất quát, hữu hoạch là kết quả mà tàng khí đại thì là tạo nhân.
Nếu tàng khí mà động không đúng thì thời khí cụ đó hóa vô dụng; thì cơ vẫn đúng, nhưng khí cụ chưa trữ sẵn thời thì cơ chốc phút chạy mất. Thượng Lục ở về cuối cùng thì Giải là một vận hội rất tốt. Bây giờ cung tên đã sẵn, người bắn lại hay, chuẩn lại đậu trên cao dung, có lẽ gì mà bắn không được. Hào từ sở dĩ nói thế là thiết ra cách thí dụ mà bảo cho chúng ta, hễ trước khi làm việc, tất phải lo thành khí mà lại lo động cho đúng thì vậy. Chữ thành khí với chữ tàng khí nên nhận cho kĩ.
Tàng nghĩa là phải lo chứa trữ cho sẵn; t hành, nghĩa là phải trau dồi cho tốt. Nếu tàng khí mà lại không thành khí thời dầu có khí cũng như không. Nếu thành mà không tàng thời đến nỗi sự cơ bất mật, còn lấy gì mà chờ được thì nữa ư, chỉ bấy nhiêu lời là vẽ hết trí cho chúng ta làm việc. Tượng viết: Công dụng xạ chuẩn dĩ giải bội dã. Đời Giải đã đến lúc cuối cùng, nội loạn đã an rồi, dầu ở phía ngoài còn có người dám bội loạn thời nhân dịp mà giải trừ nó, chắc công việc tất thành, cũng in như bắn chim chuẩn mà trúng được.
Chữ Bội này, ở về Ngoại Quái, chỉ vào giặc cướp ở phía ngoài
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Lôi Thủy Giải là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Lôi Thủy Giải Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 40 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Lôi Thủy Giải Là Gì?
Thượng quái là Chấn, tượng sấm; hạ quái là Khảm, tượng nước. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 解: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Lôi Thủy Giải. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 39: Thủy Sơn Kiển · Quẻ 41: Sơn Trạch Tổn


Hotline