Quẻ Thủy Sơn Kiển (蹇) là quẻ số 39 trong thứ tự Văn Vương của Kinh Dịch. Thượng quái là Khảm (nước), hạ quái là Cấn (núi). Kiển nói về khó đi và trở ngại. Nước ở trên núi tạo thế hiểm; lời tượng hướng vào trở lại xét mình và tu đức, trong khi từng hào bàn về đi và trở lại.
Bài đọc này phân biệt nguyên văn Chu Dịch với lời chú giải. Các khối trích dẫn dưới đây ghi lại phần diễn giải của Phan Bội Châu để người đọc có căn cứ đối chiếu; đó là lời của tác giả nguồn, không phải lời luận đoán mới do Phúc Viên đặt ra. Cách dùng từ cổ được giữ trong phần trích, đồng thời tách khỏi phần chỉ dẫn đọc và bảng nhận diện hiện nay.
Quẻ Thủy Sơn Kiển Là Gì?
| Số thứ tự | 39/64, thứ tự Văn Vương |
|---|---|
| Tên quẻ | Thủy Sơn Kiển — 蹇 |
| Thượng quái | Khảm — Nước |
| Hạ quái | Cấn — Núi |
| Hào dương | 2 |
| Hào âm | 4 |
Hình quẻ được đọc từ dưới lên: ba hào đầu tạo hạ quái Cấn, ba hào sau tạo thượng quái Khảm. Nét liền biểu thị hào dương, nét đứt biểu thị hào âm. Khi nói vị trí thứ nhất, thứ hai hay thứ sáu, cần giữ đúng chiều đếm này; đảo trên và dưới có thể làm thành một quẻ khác.
Trong tên hào, cửu dùng cho hào dương và lục dùng cho hào âm; sơ chỉ vị trí dưới cùng, thượng chỉ vị trí trên cùng. Đây là tên gọi trong văn bản, không phải yêu cầu vẽ chín hoặc sáu nét cho từng hào.
Quái Từ Và Các Lớp Chú Giải Quẻ Thủy Sơn Kiển
Quái từ là lời chung của quẻ. Thoán truyện giải thích lời quẻ; Đại Tượng lấy hình tượng quái để triển khai ý nghĩa hành xử. Bản Phan Bội Châu dùng cách gọi Soán từ, Soán truyện. Giữ các lớp này riêng giúp tránh gán một ý của người chú giải thành câu nguyên văn của kinh.
Nguyên Văn Quái Từ
蹇:利西南,不利東北;利見大人,貞吉。
Nguyên Văn Thoán Truyện
蹇,難也,險在前也。見險而能止,知矣哉!蹇利西南,往得中也;不利東北,其道窮也。利見大人,往有功也。當位貞吉,以正邦也。蹇之時用大矣哉!
Nguyên Văn Đại Tượng
山上有水,蹇;君子以反身修德。
Đối Chiếu Chú Giải Phan Bội Châu
Khảm trên; Cấn dưới Quẻ này là quẻ Thủy Sơn Kiển. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm thủy, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng Thủy Sơn Kiển. TỰ QUÁI Tự quái: Khuê giả quai dã, quai tất hữu nạn, cố thụ chi dĩ Kiển, Kiển giả nạn dã. Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khuê tiếp lấy quẻ Kiển là vi cớ sao? Vì rằng: Hễ đương lúc Khuê quai, tất nhiên có Kiển nạn nên sau quẻ Khuê, tiếp lấy quẻ Kiển. Kiển, nghĩa là gay go hiểm trở. Theo như thể quẻ, Khảm ở trên, Cấn ở dưới, trên hiểm mà dưới phải chỉ.
Trước mặt bị sông đón, sau lưng bị núi ngăn, đi đứng thiệt là khốn nạn nên đặt tên quẻ bằng Kiển. SOÁN TỪ Kiển, lị Tây Nam, bất lị Đông Bắc, lị kiến đại nhân, trinh, cát. Kiển là nguy hiểm rồi, người ở vào thì ấy mà lại cứ nhè vào đường lối hiểm trở mà đi, thế thời hiểm lại thêm hiểm; dầu hành động việc gì tất cũng không lợi. Vậy chỉ nên tìm phương nào thản dị mà đi, không nên đi vào đường hiểm nên nói rằng: Lị Tây Nam, bất lị Đông Bắc. Tây Nam là phương hướng Khôn là đường lối thản dị, Đông Bắc là phương hướng Cấn là đường lối hiểm trở; lị đi vào đường lối thản dị, không lị đi vào đường lối hiểm trở là thì nghĩa ở thì Kiển.
Hễ trong thiên hạ đã tới thì Kiển nạn, người trong đời ấy ai cũng trông cho thoát khỏi vòng hiểm nạn, nhưng công việc cứu Kiển thoát nạn, há phải những hạng người tầm thường mà làm nên rư? Cửu được Kiển, thoát được nạn, tất phải nhờ người phi thường, mà người phi thường đó là ai? Chính là bậc đại nhân nên nói rằng: Lị kiến đại nhân. Đại nhân, tức là thánh hiền có đại tài đại đức, chứ không phải đại nhân như tục ta thường gọi đâu! Đó lại là một thì nghĩa ở đời Kiển. Lại một nghĩa nữa, hễ thường nhân gặp phải thì Kiển, hoặc kẻ thời bị hoàn cảnh xấu bắt buộc, hoặc kẻ thời bị làn sóng dữ xô đẩy đến nỗi biến tâm, dịch tính, bỏ chính theo tà, kết quả chỉ là tiểu nhân mà thân danh đến nỗi hỏng cả.
Quân tử biết như thế nên bèn giữ một cách trinh chính, dầu hoàn cảnh xấu, cũng chẳng lay chuyển được mình, dầu phong trào dữ, cũng chẳng xô đẩy được mình, như thế thời kết quả được tốt lành. SOÁN TRUYỆN Soán viết: Kiển nạn dã, hiểm tại tiền dã, Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai. Kiển lị Tây Nam, vãng đắc trung dã, bất lị Đông Bắc, kì đạo cùng dã. Lị kiến đại nhân, vãng hữu công dã, đang vị trinh cát, dĩ chính bang dã. Kiển chi thì dụng đại hĩ tai. Soán viết: Kiển nạn dã, hiểm tại tiền dã.
Kiển, nghĩa là nạn, vì Khảm hiểm ở trước mặt mà không tiến được vậy. PHỤ CHÚ: Nghĩa tên quẻ có ba quẻ in nhau; Kiển, Truân, Khốn, thảy thích nghĩa bằng nạn, nhưng ý tứ thời có khác nhau. Truân thời bắt đầu vào nạn; Khốn thời khi nạn đã đến lúc cùng; Kiển thời chính giữa lúc nạn, muốn tiến lên mà bị Khảm thủy đón ở mặt trước, muốn thối lui thời bị Cấn sơn ngăn ở mặt sau, tượng như đại tướng ra trận mà sụp vào giữa trùng vi nên đặt tèn bằng Kiển. Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hỉ tai.
Đây lại không nói bằng tượng quẻ mà chỉ nói bằng đức quẻ. Thượng Khảm là có tính hiểm, hạ Cấn là có tính chỉ, thấy cơ hiểm mà hay chỉ, thiệt là người rất khôn đó rư. Chữ trí ở đây là hay kiến hiểm nhi năng chỉ, việc thiên hạ không chốn nào không thấy có hiểm, mà hiểm thứ nhất là nhân tâm; khi hiểm đã hình hiện rồi thời dầu thường nhân cũng dòm thấy được, duy hiểm đương ẩn nấp ở chốn vô hình thời tất duy thánh triết mới thấy được trước. Chữ kiến ở đây là cốt thấy ở khi cơ tiên kìa vậy.
Kiến hiểm nhi năng chỉ với kiến cơ nhi tác cũng chỉ là một cặp nhãn quang nên gọi bằng trí. Kiển lị Tây Nam, vãng đắc trung dã, bất lị Đông Bắc, kì đạo cùng dã. Tây Nam là dựa theo lối bình thản mà đi thời giữ được đạo trung vậy. Nếu nhè vào đường lối hiểm mà đi thời tất nhiên đường lối đi phải cùng vậy. Tây Nam là đường lối bình dị, Đông Bắc là đường lối hiểm trở, nên nói lị Tây Nam, bất lị Đông Bắc; chữ Tây Nam, chữ Đông Bắc là mượn danh từ đã thiết để tỏ chỉ cho người đời một phương hướng rằng: Nên đi đường bình dị, không nên đi đường hiểm trở, chứ không phải nhất định có phương Tây Nam, phương Đông Bắc như các nhà thuật số nói đâu.
Lị kiến đại nhân, vãng hữu công dã, đang vị trinh cát, dĩ chính bang dã. Hễ đến thì Kiển nạn thời những công việc duy trì thế đạo, khuông cứu thì gian, tất phải chờ đến tay đại tài đại đức nên phải lị kiến đại nhân. Lị kiến đại nhân thời tấn hành mới được hữu công, lại phải ở được vị trung chính làm được đạo đại chính, mới chính được bang quốc mà qua khỏi được thì Kiển nạn nên nói rằng trinh cát. Kiên chi thì dụng đại hĩ tai. Ở vào thì Kiển, có đạo tế Kiển; có công dụng tế Kiển, tất phải có cặp mắt xem thì, có trí khôn ứng biến, có thủ đoạn đại hữu vi.
Nếu không phải thánh hiền mà kiêm cả anh hùng thời chẳng làm nên, cái công dụng đó thiệt là to lớn nên lại tán rằng: Công dụng ở về thì Kiển thiệt lớn vậy thay! PHỤ CHÚ: Quẻ Khảm, quẻ Kiển, quẻ Khuê, ở những thì ấy thảy là nghịch cảnh, nhưng hay lị dụng được thì ấy sẽ chuyển di được nghịch cảnh làm ra thuận cảnh thời công nghiệp mới lớn vậy, nên thánh nhân ở ba quẻ ấy, thảy nói chữ thì mà kiêm cả chữ dụng. Vì rằng: Những bậc người hay dụng được thì ấy thời trong thiên hạ không ngày nào mà không hữu vi được.
Như thế thời biết đươc nghĩa chữ thì bao bọc được rất lớn. Nếu chỉ chờ đến thì thái bình thản thuận mà sau mới hữu vi được thời còn gì là nghĩa chữ thì, nên thánh nhân ở ba quẻ ấy, thảy tán rằng: Thì dụng đại hĩ tai. ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN Tượng viết: Sơn thượng hữu thủy, Kỉển. Quân tử dĩ phản thân tu đức. Cấn sơn vẫn đã hiểm trở mà ở trên lại có Khảm thủy là thêm một tàng hiểm trở nữa. Thế là tượng Kìển nạn, quân tử gặp phải thì Kiển nạn thời nên dường nào? Chỉ nên trở lại xét trong mình mà tu thêm đức.
Đức nhân mình tới nơi, tất được nhiều người yêu mến; đức trí mình tới nơi thời dầu nhân tâm hiểm cũng chẳng sợ; đức dũng mình tới nơi thời dầu đường đời hiểm, mình cũng chả lui, đó là đạo tế Kiển vậy. Chữ đức ở đây, chính là chữ tam đạt đức ở sách Trung Dung, tức là “trí”, “nhân”, “dũng”. Ở vào thì Kiển mà xét lại trong tâm thân, tu được ba đức ấy, có lo gì Kiển nạn nữa đâu. PHỤ CHÚ: Quẻ Khốn với quẻ Kiển cảnh ngộ có hơi giống nhau, nhưng Tượng Truyện quẻ Khốn thời nói rằng “trí mệnh toại chí”; Tượng Truyện quẻ Kiển thời nói rằng “phản thân tu đúc”; hai việc đó có khác nhau, nhưng há phải trái nhau đâu.
Kiển với Khốn thì có khác nhau nên quân tử tùy thì tùng đạo cũng có khác nhau. Kiển là nạn đương ở trung gian, chẳng qua khó khăn gay go mà thôi nên quân tử phải phản thân tu đức, lánh thân thoát nạn; còn như thì Khốn thì nạn đã đạt ở cực điểm, quân tử gặp thì ấy, chỉ có một cách trí mệnh toại chí, nghĩa là vứt cái sinh mệnh để hoàn toàn chí tiết của mình, việc tuy khác nhau, nhưng cũng chung một đạo tùy thì của quân tử
Sáu Hào Của Quẻ Thủy Sơn Kiển
Mỗi hào có một vị trí và lời riêng. Phần chữ Hán được đối chiếu theo bản Chu Dịch trên Wikisource; phần diễn giải tiếng Việt trong khối trích dẫn thuộc bản Phan Bội Châu. Đọc lần lượt cả sáu hào để thấy diễn tiến của quẻ, đồng thời phân biệt lời hào với lời Tiểu Tượng được tác giả dẫn kèm.
Hào 1 — Sơ Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 1, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
初六:往蹇,來譽。
Phan Bội Châu chú giải:
Vãng kiển, lai dự. Ở vào thì Kiển là thì Kiển nạn. Sơ Lục bản chất âm nhu, vẫn không tài tế Kiển, may mới bắt đầu vào thì Kiển, nếu không kiến cơ tri thì mà toan muốn thượng tiến, tất phải sụp vào giữa Kiển, như thế thời vãng là Kìển. Nếu Sơ kiến cơ tri thì, ngồi im yên phận thời tất nhiên kết quả được tiếng khôn ngoan, thế là lai thời có danh dự. Nghĩa chữ “lai” phản đối với chữ “vãng”. Tiến lên là “vãng”; không tiến lên mà chỉ là “lai”. Lai dự cũng như lời Lão Tử nói: Biết chỉ lại thời không bao giờ nguy.
Tượng viết: Vãng kìển lai dự, nghi đãi dã. Vừa đầu thì Kiển, tiến lên thời Kiển thêm, chỉ duy nên ngồi lặng mà chờ thì. Vì vậy nên nói rằng: Lai dự
Hào 2 — Lục Nhị
Đây là hào âm ở vị trí thứ 2, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
六二:王臣蹇蹇,匪躬之故。
Phan Bội Châu chú giải:
Vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố. Lục Nhị có đức nhu thuận trung chính mà ở trên có hào Cửu Ngũ là một vị quốc trưởng, lấy đức dương cương, trung chính mà đồng đức với Nhị, phó thác cho Nhị gánh lấy việc tế Kiển. Thế thời Nhị chính là một bậc vương thần, gặp thì vận Kiển, được quốc trưởng tín nhậm mình, không lẽ trút gánh tế Kiển cho ai được, chỉ hữu mang thân Kiển nạn mà chống chọi với đời Kiển gian nan không quản, nguy hiểm không từ, đó thiệt là vương thần kiển kiển. Nhưng sở dĩ kiển kiển là cốt theo tấm lòng Cửu Ngũ, trên vì nước, dưới vì dân, há vì cớ thân riêng rư?
( Cung: thân mình; phỉ: chẳng phải; cố: cớ). PHỤ CHÚ: Tận trung kiệt tiết như Lục Nhị, nhưng Hào từ chỉ nói kiển kiển phỉ cung mà không thấy nói tới công hiệu. Than ôi! Phù nguy cứu hiểm cần phải có bậc đại tài, Nhị bản chất âm nhu, có tài gì cứu được đại Kiển, nhưng tâm sự Nhị thời thiệt đáng khen. Bài Xuất Sư Biểu của ông Khổng Minh có câu: “Tôi chỉ biết gò mình hết mệt, đến chết mà sau mới thôi, đến như thành hay bại, lị hay độn thời không phải sức mình của tôi mà thấy trước được” ( thần duy cúc cung tận tụy tử nhi hậu kỷ; chí ư thành bại lợi độn, phi thầnchi minh sở năng nghịch đổ dã –. ), thiệt đúng như nghĩa hào này.
Sử nước ta như ông Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị ở đời Trần cũng bậc người ấy. Tượng viết: Vương thần kiển kiển, chung vô cựu dã. Một bậc vương thần liều thân mà trung với nước, tuy kiển qua kiển lại chẳng thành công mặc dầu, nhưng tâm sự vẫn lỗi lạc, nghĩa vụ cũng hoàn toàn, kết quả thiệt không điều gì đáng chê trách
Hào 3 — Cửu Tam
Đây là hào dương ở vị trí thứ 3, thuộc hạ quái. Nguyên văn hào từ:
九三:往蹇來反。
Phan Bội Châu chú giải:
Vãng kiển, lai phản. Cửu Tam này dương cương đắc chính ở trên hết hạ thể nhưng cũng vẫn còn ở hạ thể, chính ứng với Tam là Thượng Lục thời âm nhu vô vị không lấy gì giúp đỡ được mình mà ngó xuống hai hào âm là Sơ với Nhị, âm nhu tất phải dựa vào dương cương, cứ theo như hoàn cảnh Cửu Tam qua lên mà cầu Thượng Lục cũng không ích gì, đã không ích gì thời có phần thiệt hại. Vậy nên vãng thời kiển, âu là quay lại mà liên kết với bạn nhị âm, bởi vì họ đã quy phụ với mình mà mình lại phản với họ thời vây cánh có thể vững vàng mà may ra khỏi được sự Kiển nạn chăng?
Nên Hào từ nói rằng: Lai phản ( Phản: trở về, chẳng vãng tức là phản; lai phản nghĩa là bảo nên trở lại với nhị âm, không nên tiến lên tìm Thượng Lục). Tượng viết: Vãng kiển, lai phản, nội hỉ chi dã. Không nên vãng kiển, chỉ nên lai phản là vì hai âm ở Nội Quái thảy sẵn lòng hoan nghênh Cửu Tam đó vậy ( Nội là chỉ vào hai hào âm ở dưới). PHỤ CHÚ: Ở vào thì Kiển nạn, cần thứ nhất là người có tài, đã có tài lại cần phải có bạn. Sơ với Nhị vì âm nhu mà không tài nên phải ỷ lại vào Cửu Tam.
Cửu Tam tuy có tài dương cương, nhưng lại khổ nỗi không bạn đồng đức nên phải ríu rít với hai âm, liên quần còn hơn cô lập, không dại gì một mình chạy quàng mắc lấy Kiển thêm, đó là ý thánh nhân dạy cho ta liệu thì mà xử thế đó vậy
Hào 4 — Lục Tứ
Đây là hào âm ở vị trí thứ 4, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
六四:往蹇來連。
Phan Bội Châu chú giải:
Vãng kiển, lai liên. Lục Tứ đã thoát khỏi hạ thể mà bắt đầu bước vào thượng thể Khảm hiểm, hiểm còn chưa sâu, còn có thể thoát được. Nêu Tứ không đạt thì lưỡng lực làm một cách lên bướng chạy liều thời lên chừng nào, càng hiểm thêm sâu chừng ấy. Thế là Vãng Kiển. Bảy giờ nghĩ cho Tứ một phương pháp ở thì Kiển, kề tận mình có Cửu Tam, Tam lại có thế lực dắt được nhị âm, thiệt là một người sừng sỏi trong thì Kiển. Nếu Tứ biết thối lại mà liên lạc với Tam: Tam lại dắt dìu Nhị âm mà làm một bè với mình, phương pháp của Tứ ở thì Kiển như thế là rất hay nên Hào từ lại nói rằng: Lai liên.
Lai nghĩa là lai với Cửu Tam; liên nghĩa là liên hợp với ba hào Nội Quái. Tứ liên với Tam, Tam lại liên với Nhị âm, có thể thành được một đảng lớn, đó là một cách rất hay ở đạo tế Kiển. Tượng viết: Vãng Kiển lai liên, đương vị thực dã. Tứ sở dĩ lai với Tam: mà liên hợp cả nhị âm, vì bốn hào ấy thảy ở vào địa vị thì Kiển mà đem một tấm lòng thành thực cứu nhau ở giữa đời hoạn nạn, còn gì tốt hơn
Hào 5 — Cửu Ngũ
Đây là hào dương ở vị trí thứ 5, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
九五:大蹇朋來。
Phan Bội Châu chú giải:
Đại kiển, bằng lai. Cửu Ngũ ở chính giữa Ngoại Khảm, đã ở thì Kìển nạn mà lại đứng giữa Khảm hiểm, thiệt là đã Kiển phi thường, huống gì thân mình lại ở vị chí tôn, trăm đâu đổ cả đầu tằm, thì Kiển nạn lại càng to lớn nên nói rằng: Đại kiển. Kiển đã to lớn như thế, một cột đá ở giữa dòng nước chảy, một cây côi ở giữa trận gió thu, dầu Ngũ có tài dương cương đến thế nào cũng khó mong cho thoát khỏi Kiển nạn, nhưng may thay, ở dưới có hào chính ứng với mình là Lục Nhị là một bậc quân tử có đức trung chính.
Nhị đã sẵn lòng giúp Ngũ tất dắt bầy kéo bạn đến giúp Ngũ khá đông. Bản thân đã dương cương lại có bạn trung chính giùm giúp cho mình, đó là việc đáng mừng cho Cửu Ngũ. PHỤ CHÚ: Bằng lai mà không thấy nói cát hanh, thế thời công việc tế Kìển, chẳng hèn mọn lắm hay sao? Phải, thiệt như thế. Xưa nay, đời có phi thường chi biến, tất phải cậy có phi thường chi tài, mà có phi thường chi tài, mới nên được phi thường chi công. Bây giờ Ngũ tuy dương cương mà những người giúp công với Ngũ chỉ một Cửu Tam là dương cương, còn Lục Tứ, Lục Nhị, Sơ Lục thảy là bạn âm nhu.
Nguyên thủ tuy có cương cường mà tay chân là đồ nhu nhược, ở vào thì Kiển mà chỉ có một mình Ngũ trổi hơn hết, lấy gì làm nên được công nghiệp phi thường được rư. Vậy nên Hào từ không có chữ cát, hanh. Còn như các hào có nói chữ vãng lai mà Nhị, Ngũ thảy chỉ nói chữ Kiển là vì sao? Bồi vì, Ngũ là bậc nguyên thủ, Nhị là bậc đại thần, trách nhậm quá chừng nặng nên nghĩa vụ không thể chối từ, chẳng lẽ gì mà thương lượng được vãng hay lai nữa. Vậy nên các hào thời lo cho vãng kiển.
Duy Nhị, Ngũ thời dầu Kiển cũng phải vãng, mà nói lai cũng chằng biết lai vào đâu. Đó lại là ý thánh nhân, hi vọng cho những người có trách nhiệm ở về thì Kiển vậy. Tượng viết: Đại kiển, bằng lai, dĩ trung tiết dã. Đặt thân vào giữa Khảm hiểm, thiệt là nạn kiển hung lắm mà may được bằng lai là vì Ngũ này có đức trung chính vậy (Chữ tiết là thay cho chữ đức). PHỤ CHÚ: Chữ trung ở về thì Kiển có đạo lí rất hay mà cũng thủ đoạn rất cao, cuộc đời đến khi điên đảo, việc đời đến hội rối ren, nếu nóng nảy quá một phân thời không trúng với đạo lí.
Nếu trì trệ quá một phân thời hụt mất cơ hội nên cần nhất là chữ trung, xử trí đắc nghi, cương, nhu vừa phải, mới mong cứu được đại nạn mà thành được đại công, như thế là tác dụng của chữ trung mà cũng có thể gọi bằng chữ trung, trung thời trúng, trúng thời chẳng bao giờ trật. Vậy nên, Tượng Truyện Cửu Ngũ kết thúc lấy chữ trung
Hào 6 — Thượng Lục
Đây là hào âm ở vị trí thứ 6, thuộc thượng quái. Nguyên văn hào từ:
上六:往蹇來碩,吉;利見大人。
Phan Bội Châu chú giải:
Vãng kiển, lai thạc, cát, lị kiến đai nhân. Đạo lí trong Dịch, quý trọng nhất là chữ thì, mỗi một hào có thì của hào ấy, ở thì Kiển mà đến hào Thượng Lục này là một dịp đáng mừng lắm. Vì hào này ở cuối cùng quẻ, chính là thì Kiển đã đến lúc cuối cùng, Kiển đã cực rồi, tất nhiên phải thông, duy cốt bản thân hào Thượng, biết lựa thì mà xử trí thời chắc được tốt lành, nên Hào từ lại dạy cho rằng: Mình đã ở thì Kiển cực, mình nên tự xét địa vị của mình, tự liệu tài mình là âm nhu.
Không thể một mình mạo hiểm mà đi được. Nếu mình không lượng lực mà cứ đi càn thời Kiển chỉ hoàn Kiển, chi bằng mình cứ ngồi im mà lo tìm bạn dương cương, kề bên mình có hào Cửu Ngũ là bậc dương cương, trung chính, rất đủ tài lực mà giúp đỡ cho minh nên nói rằng lai thạc cát, nghĩa là, mình hãy quày lại mà tìm người phụ bật thời có lẽ làm nên được việc lớn mà được tốt lành. Thạc là to lớn, cũng như nghĩa chữ thạc ở quẻ Bác là chỉ vào hào dương cương, nhưng mà chỉ nói “lai thạc”, thánh nhân còn sợ chúng mình không hiểu nên lại nói thêm rằng: Lị kiến đại nhân.
Đại nhân là chỉ vào hào Cửu Ngũ, toàn quẻ duy Cửu Ngũ dương cương đắc trung mà lại ở tôn vị, chính là bậc đại nhân hữu tài hữu đức mà Thượng Lục nên lị kiến người ấy đó vậy. PHỤ CHÚ: Thượng Lục kể tài không bằng Cửu Tam, kể vị với đức thời không bằng Cửu Ngũ, kể tính âm nhu có khác gì Sơ, Nhị, Tứ đâu, nhưng cớ sao các hào kia không được chữ cát mà một mình Thượng lại được cát? May phúc cho Thượng vì Thượng đã ở vào thì Kiển cực, vật cùng tác phản, cùng cực tắc thông, đó là lẽ tự nhiên.
Nếu Thượng không biết lai thạc, không biết lị kiến đại nhân thời làm gì được cát rư? Mới biết rằng: Nhân sự với khí số thường giúp nhau mà nên, cũng thường tranh nhau mà thắng. Xem như hào cuối cùng quẻ Kiển có chữ cát mà năm hào trước kia thảy không hung, hối, lẫn. Đó mới biết thánh nhân bàn đạo lí có bao giờ đổ tại khí số đâu mà chỉ cốt ở hai chữ “thì trung”. Nếu nhân sự mà đúng được thì trung thời dầu khí số xấu thế nào, chúng ta cũng thây kệ. Tượng viết: Vãng kiển, laì thạc, chí tại nội dã, lị kiến đại nhân, dĩ tòng quý dã.
Thượng Lục ứng với Tam, thân với Ngũ, sẵn lòng cầu trợ với bạn dương cương trong mà lại biết phục tòng với hào quý là hào Cửu Ngũ mà chúng đã tín ngưõng bằng đại nhân nên Hào từ nói: Lai thạc, cát (Chữ quý là chỉ vào Cửu Ngũ)
Những Điểm Cần Phân Biệt Khi Đọc Quẻ
Thông tin ổn định để nhận diện quẻ Thủy Sơn Kiển là số thứ tự, tên quái trên dưới và sáu nét âm dương. Lời hào lại nói đến những vị thế khác nhau. Vì vậy, một câu tốt ở hào này không tự động xóa lời cảnh giới ở hào khác; ngược lại, một hình tượng bất lợi cũng không đủ để thay toàn bộ nội dung quẻ bằng một nhãn xấu.
Chú giải truyền thống thường dùng các từ quân tử, tiểu nhân, vua, bề tôi hoặc gia đình để giải thích cấu trúc quẻ. Cần nhận diện đó là hệ biểu tượng và bối cảnh xã hội của tác phẩm. Những quy thuộc tác giả cổ truyền được dẫn trong bản chú giải cũng không đồng nghĩa đã giải quyết xong các vấn đề lịch sử hình thành văn bản.
Đọc sách về một quẻ và luận một lần lập quẻ là hai việc cần phân biệt. Bài này cung cấp văn bản và chú giải để tra cứu; không bổ sung lời phán riêng về người yêu, tài sản, bệnh tật hoặc thời điểm xảy ra sự việc. Nếu liên hệ với kết quả trong ứng dụng, cần hiểu phương pháp lập quẻ và vị trí hào đang xét trước khi chọn phần để đọc.
Câu Hỏi Thường Gặp
Quẻ Thủy Sơn Kiển Là Quẻ Số Mấy?
Đây là quẻ số 39 trong thứ tự Văn Vương gồm 64 quẻ. Số này là số tra cứu trong hệ thứ tự đang dùng ở bài, không phải một con số may mắn hay lời dự báo riêng cho người đọc.
Thượng Quái Và Hạ Quái Của Thủy Sơn Kiển Là Gì?
Thượng quái là Khảm, tượng nước; hạ quái là Cấn, tượng núi. Ba hào dưới thuộc hạ quái, ba hào trên thuộc thượng quái. Có thể kiểm tra trực tiếp từng nét trong hình và bảng nhận diện ở đầu bài.
Cần Đọc Quái Từ Hay Sáu Hào Trước?
Khi tìm hiểu văn bản, có thể bắt đầu bằng bảng nhận diện và quái từ để biết phần chung, sau đó đọc Thoán, Đại Tượng và từng hào. Khi tra một lần lập quẻ, cách chọn lời để dùng còn tùy phương pháp; bài tra cứu không đặt ra thêm một phép chọn hào mới.
Phần Giải Nghĩa Trong Bài Theo Tác Giả Nào?
Các khối trích tiếng Việt ghi tên Phan Bội Châu được lấy từ bản chép điện tử Chu Dịch của ông. Phần nguyên văn chữ Hán được đối chiếu riêng theo Wikisource. Bài không trộn cách giải của nhiều tác giả rồi trình bày như một nhận định duy nhất.
Nguồn Đối Chiếu Và Ghi Chú Biên Tập
- Chu Dịch — quẻ 蹇: nguyên văn quái từ, Thoán, Tượng và hào từ trên Wikisource.
- Phan Bội Châu, Chu Dịch, chương quẻ Thủy Sơn Kiển. Bản chép điện tử trên Y Võ Tâm Thuật. Các khối trích trong bài thuộc lời chú giải của tác giả này; nguồn không phải tác giả của phần chỉ dẫn đọc mới.
Biên tập và trình bày: Phong Thủy Phúc Viên. Hình sáu hào được dựng theo cấu trúc quẻ, không phải bản quét sách cổ. Phần trích giữ cách dùng từ cũ, đã chuẩn hóa khoảng trắng và bố cục; một số lỗi số thứ tự đề mục rõ ràng được chỉnh để đối chiếu đủ sáu hào. Nội dung nghiên cứu văn hóa và triết học, không phải sự xác nhận về một biến cố cụ thể.
Tìm hiểu ứng dụng gieo quẻ Kinh Dịch của Phúc Viên
Đọc tiếp trong bộ 64 quẻ: Quẻ 38: Hỏa Trạch Khuê · Quẻ 40: Lôi Thủy Giải


Hotline